Xu Hướng 2/2024 # Sản Phụ Khoa Phúc Thiện # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sản Phụ Khoa Phúc Thiện được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Dsb.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thai trứng (hydatidiform mole) là một biến đổi bệnh lý của nguyên bào nuôi. Bệnh đặc trưng bằng sự thoái hoá nước của các gai nhau (hydropic degeneration) và sự quá sản của các nguyên bào nuôi (trophoblastic hyperplasia).

Có 2 loại Thai trứng: chửa trứng bán phần là khi chỉ một số gai nhau trở thành các nang nước, trong buồng tử cung có thể có phần thai nhi. Thai trứng hoàn toàn là toàn bộ các gai nhau trở thành nang nước, trong buồng tử cung không có phần thai.

Thai trứng là bệnh lành tính những có khoảng 15% trường hợp Thai trứng hoàn toàn và khoảng 3% Thai trứng bán phần trở thành ung thư nguyên bào nuôi.

2.1. Lâm sàng 2.1.1. Cơ năng

– Người bệnh có hiện tượng chậm kinh.

– Rong huyết chiếm trên 90% trường hợp chửa trứng. Máu ra ở âm đạo tự nhiên, máu sẫm đen hoặc đỏ loãng, ra kéo dài.

– Nghén nặng: gặp trong 25-30% các trường hợp, biểu hiện nôn nhiều, đôi khi phù, có protein niệu.

– Bụng to nhanh.

– Không thấy thai máy.

2.1.2. Thực thể

– Toàn thân: mệt mỏi, biểu hiện thiếu máu.

– Tử cung mềm, kích thước tử cung lớn hơn tuổi thai (trừ trường hợp Thai trứng thoái triển).

– Không sờ được phần thai.

– Không nghe được tim thai.

– Nang hoàng tuyến xuất hiện trong 25-50%, thường gặp cả 2 bên.

– Khám âm đạo có thể thấy nhân di căn âm đạo, màu tím sẫm, thường ở thành

trước, dễ vỡ gây chảy máu.

– Có thể có dấu hiệu tiền sản giật (10%)

– Có thể có triệu chứng cường giáp (10%)

– Tuy nhiên do hiên nay việc chẩn đoán Thai trứng thường rất sớm với tuổi thai trung bình là 9 tuần so với trước kia là khoảng 13 tuần , và có xu hướng ngày càng sớm hơn nên các triệu chứng lâm sàng ngày càng không điển hình như đã nêu trên.

2.2. Cận lâm sàng 2.2.1. Siêu âm: trên siêu âm thấy hình ảnh tuyết rơi hoặc lỗ chỗ như tổ ong, có thể thấy nang hoàng tuyến hai bên, không thấy phôi thai (Thai trứng toàn phần). Trong chửa trứng bán phần thì khó phân biệt hơn với thai lưu, có thể thấy một phần bánh nhau bất thường . 2.2.2. Định lượng E-hCG: là xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán và theo dõi chửa trứng. Lượng E-hCG tăng trên 100 000mUI/ml. 2.2.3. Định lượng estrogen: trong nước tiểu estrogen dưới dạng các estrone,

estradiol hay estriol đều thấp hơn trong thai thường, do sự rối loạn chế tiết của nhau và do không có sự biến đổi estradiol và estriol xảy ra ở tuyến thượng thận của thai nhi. Nhưng ít ý nghĩa và không sử dụng trong thực tế vì sự khác biệt này chỉ thấy rõ khi tuổi thai từ 14 tuần trở lên.

2.2.4..Xét nghiệm định lượng HPL: (Human placental lactogen), thường cao

trong thai thường, nhưng rất thấp trong Thai trứng.

2.2.5. Giải phẫu bệnh

– Đại thể: có 2 loại thai trứng:

+ Thai trứng toàn phần: toàn bộ gai nhau phát triển thành các nang trứng.

+ Thai trứng bán phần: bên cạnh các nang trứng còn có mô nhau thai bình

thường, hoặc có cả phôi, thai nhi thường chết trong giai đoạn 3 tháng đầu.

Đường kính nang trứng từ 1-3mm. Các nang trứng dính vào nhau như những bọc trứng ếch hoặc chùm nho.

Trong Thai trứng, buồng trứng bị ảnh hưởng bởi hormon EhCG. Nang hoàng tuyến xuất hiện ở một hoặc hai bên buồng trứng. Đường kính từ vài cm đến vài chục cm, trong chứa dịch vàng. Nang hoàng tuyến thường có nhiều thuỳ, vỏ nang mỏng và trơn láng.

– Vi thể: các gai nhau phù và thoái hóa nước trục liên kết, không còn các tế bào xơ, sợi và các huyết quản. Trục liên kết chứa dịch trong. Các nguyên bào nuôi quá sản nhiều hàng (hình thái giống các nguyên bào nuôi bình thường tuy nhiên cũng có thể gặp một số nguyên bào nuôi có nhân không điển hình hoặc các hình nhân chia), mất cân đối giữa tỷ lệ hợp bào nuôi và nguyên bào nuôi. Hình thành các đám nguyên bào nuôi tự do. Trong Thai trứng bán phần, ngoài các hình ảnh gai nhau thoái hóa trục liên kết và quá sản nguyên bào nuôi còn gặp các gai nhau có hình thái bình thường.

2.3. Chẩn đoán xác định

Chủ yếu dựa vào hình ảnh siêu âm và nồng độ E-hCG

2.4. Chẩn đoán phân biệt

– Triệu chứng ra máu âm đạo cần phân biệt với:

+ Doạ sẩy thai thường: tử cung không to hơn tuổi thai, lượng E-hCG không cao.

+ Thai ngoài tử cung: ra máu âm đạo, tử cung nhỏ, có khối cạnh tử cung đau.

+ Thai chết lưu: tử cung nhỏ hơn tuổi thai, EhCG thấp, vú có tiết sữa non. Có thể nhầm với chửa trứng bán phần, chỉ phân biệt được nhờ giải phẫu bệnh.

– Tử cung lớn cần phân biệt với:

+ U xơ tử cung to rong huyết

+ Thai to

+ Đa thai

– Triệu chứng nghén phân biệt với nghén nặng trong thai thường, đa thai.

3.1. Nạo hút trứng: nạo hút trứng ngay sau khi được chẩn đoán để đề phòng sẩy tự nhiên gây băng huyết.

Kỹ thuật: hút trứng + truyền oxytocin + kháng sinh.

– Thường dùng máy hút dưới áp lực âm để hút nhanh, đỡ chảy máu.

– Trong khi hút phải truyền tĩnh mạch dung dịch Glucose 5% pha với 5 đơn vị

Oxytocin để giúp tử cung co hồi tốt, tránh thủng tử cung khi nạo và cầm máu.

– Có thể nạo lại lần 2 sau 2 – 3 ngày nếu lần thứ nhất không đảm bảo hết trứng.

Ngày nay, dưới hướng dẫn, kiểm tra của siêu âm thường nao sạch ngay trong lần đầu.

– Sau nạo phải dùng kháng sinh chống nhiễm trùng.

– Gửi tổ chức sau nạo làm xét nghiệm giải phẫu bệnh.

Hiện nay do thường được phát hiện sớm nên thai nhỏ có thể hút bằng xylanh Karman như hút thai thường, tốt nhất là hút dưới hướng dẫn của siêu âm, đảm bảo sạch và an toàn nên chỉ cần hút một lần và chỉ dùng thêm thuốc co hồi tử cung khi có chảy máu (một số tác giả cho rằng việc dùng Oxytocin hay misoprostol làm tăng co bóp tử cung có thể dẫn đến sự khuếch tán các nguyên bào nuôi và làm tăng tỷ lệ u nguyên bào nuôi).

3.2. Phẫu thuật cắt tử cung dự phòng

Cắt tử cung toàn phần cả khối hoặc cắt tử cung toàn phần sau nạo hút trứng thường được áp dụng ở các phụ nữ không muốn có con nữa hoặc trên 40 tuổi và trường hợp chửa trứng xâm lấn làm thủng tử cung.

3.3. Theo dõi sau nạo trứng – Lâm sàng:

+ Toàn trạng, triệu chứng nghén, triệu chứng ra máu âm đạo, sự nhỏ lại của nang hoàng tuyến và sự co hồi tử cung.

– Cận lâm sàng:

+ Định lượng βhCG mỗi tuần một lần cho đến khi âm tính 3 lần liên tiếp. Sau

đó định lượng mỗi tháng một lần cho đến hết 12 tháng.

+ Siêu âm: tìm nhân di căn, theo dõi nang hoàng tuyến.

– Tiến triển bệnh lý: những tiến triển không tương ứng với các tiêu chuẩn lành bệnh được coi là tiến triển không thuận lợi. Bao gồm:

+ Tử cung vẫn to, nang hoàng tuyến không mất đi hoặc xuất hiện nhân di căn.

+ ß-hCG: phương tiện chính để theo dõi và chẩn đoán biến chứng sau loại bỏ thai trứng (bao gồm cả các trường hợp được cắt tử cung dự phòng).

Nồng độ EhCG lần thử sau cao hơn lần thử trước

– Thời gian theo dõi

+ Thời gian theo dõi: 2 năm, ít nhất 12 – 18 tháng.

+ Tránh thai 1 năm và có biện pháp ngừa thai phù hợp.

Băng huyết, thủng tử cung, biến chứng ung thư nguyên bào nuôi.

– Tăng cường sức khoẻ, cải thiện yếu tố xã hội, nâng cao mức sống, sức đề kháng.

– Đề phòng các diễn biến xấu của bệnh.

– Theo dõi định kỳ và đầy đủ, nhằm phát hiện sớm biến chứng của bệnh.

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH SẢN PHỤ KHOA (Ban hành kèm theo Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2024)

Leave a reply →

Phòng Khám Sản Phụ Khoa Ngọc Châu

BS. TRẦN THỊ MINH CHÂU

Bạn có biết: Khả năng có thai tự nhiên của một cặp vợ chồng trẻ trong một tháng chỉ từ 25%-30%. Điều này nôm na nghĩa là trong 1 tháng, nếu có 10 cặp vợ chồng trẻ, hoàn toàn khỏe mạnh và mong muốn sinh con thì chỉ từ 2 đến 3 cặp vợ chồng là có tin vui mà thôi.

Vậy chế độ ăn như thế nào giúp chị em phụ nữ dễ có thai?

🌺

🌺

Chế độ ăn cung cấp đủ năng lượng kết hợp tập thể dục thường xuyên. Tránh thừa cân hoặc béo phì vì phụ nữ béo phì có khả năng rụng trứng và thụ thai thấp hơn phụ nữ có cân nặng vừa phải.

🌺

🌺

Kiêng các chất có khả năng gây hại cho thai kỳ (ví dụ: thuốc lá, rượu, thuốc an thần, sử dụng lượng caffeine quá nhiều).

🌺

🌺

Nên bổ sung các chất sau trong chế độ ăn hằng ngày:

🍀

Axít folic.

Axít folic rất quan trọng để sản xuất tế bào trứng và tinh trùng. Đây là một chất rất có ích cho quá trình thụ thai. Liều khuyến cáo hàng ngày là 0,4-0,8 mg. Axít folic có ở đâu? Các loại rau có lá màu xanh đậm, măng tây, bông cải xanh, đu đủ, cam, bơ, các loại hạt, cải bắp, các loại đậu, đậu bắp, súp lơ, củ cải đường, ớt chuông.

Phụ nữ dùng viên uống vitamin tổng hợp có chứa axit folic có thời gian mong con ngắn hơn phụ nữ có chế độ ăn thiếu axit folic. Nếu cần phải thụ tinh trong ống nghiệm thì những phụ nữ có chế độ ăn 0,8 mg axít folic mỗi ngày có khả năng thụ thai cao hơn so với những người ăn ít hơn 0,4 mg axít folic.

🍀

Vitamin D.

Bạn có biết: khoảng 46% phụ nữ Việt Nam thiếu vitamin D ở mức báo động, trong khi đó nam giới cũng có khoảng 20% thiếu vitamin D, mặc dù Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới giàu ánh nắng mặt trời. Vitamin D có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bạn, có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ mong con, đang mang thai hoặc cho con bú. Mức vitamin D cực thấp (<20 ng/mL): nguy cơ sẩy thai tự nhiên tăng.

🍀

Tinh bột.

Tinh bột trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến chuyển hóa đường trong cơ thể, và có thể ảnh hưởng đến sinh sản. Phụ nữ thừa cân, béo phì, có bệnh lý đái tháo đường hoặc mắc hội chứng buồng trứng đa nang cần được bác sĩ tư vấn về chế độ ăn và tập thể dục. Ngũ cốc nguyên hạt có tác dụng chống oxy hóa và cũng cải thiện chuyển hóa đường trong cơ thể, do đó ảnh hưởng tích cực đến sinh sản.

🍀

Omega-3.

Axit béo omega-3 có nhiều trong cá hồi, cá ngừ nhỏ (mackerel), cá mòi, cá cơm và cá trích. Bổ sung omega-3 tăng khả năng mang thai và sinh con cho chị em phụ nữ. Các loại cá cũng đã được chứng minh là có tác dụng tích cực đến khả năng sinh sản. Tuy nhiên, một số loại cá có hàm lượng thủy ngân cao không nên dùng như: cá thu lớn, cá ngừ lớn (albacore), cá kiếm, cá mó (tile fish), cá tráp cam, cá mập (hình bên dưới).

🍀

Tóm lại: Một chế độ ăn uống cân bằng: nhiều trái cây, rau, cá và dầu ô liu đã được chứng minh là có ích cho những phụ nữ đang mong con. Những viên uống bổ sung vitamin không thể thay thế hoàn toàn nguồn thực phẩm tự nhiên hằng ngày mà bạn sử dụng. Phụ nữ đang mong con cần có chế độ ăn và tập thể dục hợp lý, duy trì cân nặng lý tưởng để tăng khả năng rụng trứng đều đặn và tăng khả năng mang thai.

Nguồn:

Medscape: “Food and Fertility: What Should Women Consume When Trying to Conceive?”

ACOG: “Nutrition During Pregnancy”

Thân chào!

Sự Kiện » Tin Chuyên Ngành Sản Phụ Khoa

Chứng đau tức ngực khi bầu bí

Đau ngực khẩn cấp

Một số cơn đau vùng ngực khi mang thai thường không bất thường. Cơn đau nhẹ, đến rồi đi mà không kèm triệu chứng khác. Tuy nhiên, những dấu hiệu sau đặc biệt nghiêm trọng:

– Đau ngực đột ngột, kèm ho hoặc khó thở.

– Cơn đau từ ngực lan xuống hai cánh tay.

– Đau ngực kèm sốt.

– Đau ngực kèm chóng mặt, khó thở, đổ mồ hôi bất thường.

Những cơn đau như thế có thể cảnh báo bệnh ở tim, phổi, bắt buộc bạn phải đi khám. Nếu chỉ có triệu chứng đơn lẻ (sốt, khó thở, ho bất ngờ, chóng mặt, hay đổ mồ hôi bất thường) thì bạn cũng nên đi khám dù không bị đau ngực.

Các nguyên nhân của đau ngực khi mang thai

Thường đau ngực khi mang thai là do thay đổi về thể chất của mẹ thích ứng với thai nhi phát triển.

Để giảm sự khó chịu của chứng ợ nóng, hãy thử:

– Ăn bữa nhỏ thường xuyên hơn thay vì ba bữa lớn.

 - Ngủ với đầu và vai lên trên gối.

- Tránh các loại thực phẩm nhiều gia vị.

– Tránh thức ăn có dầu mỡ.

– Uống nước giữa các bữa ăn thay vì vừa uống vừa ăn.

– Tránh uống rượu và hút thuốc.

– Mặc quần áo lỏng ở thắt lưng.

Đau ngực do căng cơ bắp: một số phụ nữ mang thai đau ngực do căng các cơ bắp và dây chằng ở vùng ngực. Ngâm trong bồn tắm nước ấm hoặc tắm nước ấm có thể giúp làm giảm bớt sự khó chịu. Ngoài ra, cần nghỉ thường xuyên, không nâng vật nặng… Đau vú: thai phụ có thể bị đau vú, đặc biệt trong 3 tháng đầu và 3 tháng cuối. Đau vú trong thai kỳ thường do lưu lượng máu đến vú tăng lên và một số hormone ở đây hoạt động mạnh, chuẩn bị cho việc nuôi con bằng sữa mẹ.   Chọn áo ngực thể thao phù hợp có thể làm giảm cơn đau. Nếu đau vú nặng, đau một bên vú, có kèm sốt thì nên đi khám ngay vì có thể đó là dấu hiệu của nhiễm trùng hoặc ống dẫn bị tắc.   Theo Lovetoknow/M&B

Bác Sĩ Sản Phụ Khoa Cảnh Báo: Bà Bầu Bị Tiêu Chảy Không Nên Chủ Quan

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi: Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Bích – Phó trưởng khoa Phụ sản – Trưởng sản 2, Bệnh viện Thanh Nhàn.

Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Bích (Phó trưởng khoa Phụ sản – Trưởng sản 2, Bệnh viện Thanh Nhàn)

Bà bầu bị tiêu chảy phải làm sao? Đây là băn khoăn của hầu hết những mẹ bầu. Về chuyên môn thì đau bụng tiêu chảy là một trong những triệu chứng rối loạn tiêu hóa thường gặp ở phụ nữ mang thai.

Bà bầu khi gặp phải dấu hiệu tiêu chảy đều hết sức lo lắng, hàng loạt thắc mắc được nảy sinh trong đầu như:

Bà bầu bị tiêu chảy không biết thai nhi có bị ảnh hưởng không? Phải xử lý ra sao? Bác sĩ sản phụ khoa sẽ phân tích ngay sau đây.

Nguyên nhân bà bầu bị tiêu chảy

Bà bầu bị tiêu chảy thường có rất nhiều yếu tố nguy cơ đi kèm, tuy nhiên chủ yếu do chế độ ăn uống hàng ngày không đảm bảo vệ sinh. Trong giai đoạn tam cá nguyệt đầu tiên, sức đề kháng của chị em thường bị giảm sút và rất yếu nên khi ăn uống cần hết sức cẩn trọng, vì trong thời gian này hệ tiêu hóa của chị em có phần yếu đi.

Cũng có rất nhiều trường hợp bà bầu bị tiêu chảy do bị tác động từ nguồn nước ô nhiễm, thực phẩm bẩn, ngay lúc đó thì sức đề kháng của bà bầu yếu, là dịp để vi khuẩn tấn công dễ dàng, gây nên tình trạng tiêu chảy.

Bên cạnh đó, bà bầu cũng cần lưu ý với một số nhóm thực phẩm chứa một số chất không phù hợp với thể trạng và sức hấp thu của cơ thể cũng dẫn đến bị tiêu chảy trong thời kỳ mang thai.

Thực tế có không ít chị em mang thai bị phản ứng với đồ ăn có quá nhiều chất mỡ, đạm gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa, làm cho thức ăn không hấp thụ được phải tống ra qua tình trạng tiêu chảy. Hoặc có thể do ăn uống quá nhiều nước (ăn những loại hoa quả có nước nhiều như dưa hấu, các loại rau cải…). Lượng nước thừa ấy bị tống xuất qua tiêu hóa, gây tình trạng phân lỏng, loãng.

Biện pháp xử lý khi bà bầu bị tiêu chảy

Phần đa các bà bầu bị tiêu chảy sẽ tự hết sau vài ngày. Tuy nhiên, tiêu chảy là cho các mẹ mất khá nhiều nước, điều cần làm là giữ nước và điện giải. Mẹ cần uống nhiều nước, dùng gói Oresol pha và uống theo nhu cầu để bổ sung nước bị mất, nước trái cây giúp bổ sung lượng kali, và nước canh để bù lượng natri giúp mẹ.

Nếu bệnh tiêu chảy không tự hết, có thể tiêu chảy trong thời kỳ mang thai là do vi khuẩn hoặc ký sinh trùng, mẹ có thể cần đến kháng sinh. Nếu do virus gây ra tiêu chảy, kháng sinh sẽ không giúp ích gì. Để xác định nguyên nhân, bác sĩ sẽ khám và tìm nguyên nhân để xử lý.

Bổ sung chế độ ăn BRAT: BRAT (Bananas, Rice, Apple sauce and Toast: chuối, gạo, nước sốt táo và bánh mì nướng) được các bác sĩ khuyến cáo, để làm dịu hệ thống tiêu hóa đối với bà bầu.

Bà bầu bị tiêu chảy có nguy hiểm không?

Tiêu chảy khi mang thai có thể kéo dài từ 1-10 ngày tùy theo nguyên nhân. Nếu bị tiêu chảy nặng, sản phụ dễ bị mất nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi.

Các triệu chứng bà bầu thường gặp như đau bụng vùng quanh rốn, đôi khi có thể đau dữ dội và mỗi cơn đau lại mót đi ngoài phân lỏng. Tình trạng đi tiêu nhiều lần có thể làm người bệnh bị nôn mửa.

Đặc biệt là tiêu chảy do vi khuẩn tả, do Rotavirus, số lần đi tiểu và nôn mửa rất nhiều làm cho người bệnh cảm thấy kiệt sức, suy sụp rất nhanh, nếu không điều trị kịp thời có thể gây ra nhiều nguy hiểm. Điều đáng ngại là các cơn đau ở ổ bụng sẽ kích thích tử cung co bóp, đe dọa sự an toàn của thai nhi.

Phụ nữ mang thai sức đề kháng kém hơn nên mắc tiêu chảy nặng hơn các trường hợp bình thường và mức độ nguy hiểm cũng cao hơn. Ngoài tác hại lên cơ thể mẹ, thai nhi trong bụng cũng chịu ảnh hưởng không tốt, có thể bị suy dinh dưỡng chậm phát triển và nặng hơn nữa có thể làm thai chết trong bụng mẹ.

Phòng bệnh tiêu chảy khi mang thai thế nào?

Để hạn chế bị tiêu chảy trong thời gian mang thai, bà bầu cần:

– Có chế độ nghỉ ngơi thoải mái, hợp lý trong suốt thai kỳ

– Bà bầu cần thực hiện ăn chín uống sôi, không ăn các loại rau sống chưa rửa sạch, tuyệt đối không ăn gỏi, tiết canh hay thịt tái sống…

– Hạn chế ăn uống ở hàng quán để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

– Tránh ăn thức ăn ôi thiu, nhiễm và nghi nhiễm hóa chất độc hại. Nên mua các thực phẩm còn tươi mới, có màu sắc tự nhiên, không nên mua các loại thực phẩm có màu sắc quá khác biệt như rau quá xanh, thịt quá thẫm màu,… và mua ở các cơ sở cung cấp có uy tín.

– Tránh nhóm thực phẩm giàu gia vị hay ẩn chứa lượng chất béo vượt ngưỡng cho phép.

– Hạn chế những loại cá biển, tôm, ốc hoặc các thực phẩm các mẹ từng có tiền sử bị đau bụng, tiêu chảy khi ăn chúng.

– Bà bầu mang thai trong 3 tháng đầu khi bị đau bụng tiêu chảy nên ăn các thực phẩm như: bánh mì nướng, nước sốt táo, gạo, khoai tây nghiền (không có phụ gia), bánh quy, mì (không có phụ gia); chuối, cà rốt nấu chín, bí nấu chín, cháo và bột yến mạch.

– Sữa chua là thực phẩm khá tốt cho sức khỏe và có thể đẩy lùi tiêu chảy.

Chuyên gia khuyến cáo đặc biệt

Khi rối loạn tiêu hóa có kèm theo đau bụng thì đi khám bệnh càng sớm càng tốt để đề phòng mắc bệnh cấp tính như bệnh viêm ruột thừa, thủng dạ dày, ngộ độc thực phẩm… Nếu không đi khám ngay để được xử trí kịp thời thì cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng.

Dùng kháng sinh không đúng chỉ định bác sĩ gây loạn khuẩn ruột dẫn đến tiêu chảy. Khi bị bệnh nhiễm khuẩn cần dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ, không tùy tiện mua kháng sinh để dùng khi chưa có chỉ định.

Nguồn: http://thoidaiplus.giadinh.net.vn/bac-si-san-phukhoa-canh-bao-ba-bau-bi-tieu-chay-khong…

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Bích – Phó trưởng khoa Phụ sản – Trưởng sản 2, Bệnh viện Thanh Nhàn (thoidaiplus.giadinh.net.vn)

Tại Sao Ngày Càng Nhiều Trường Hợp Sản Phụ Sinh Đôi Và Đây Là Câu Trả Lời Của Bác Sĩ Khoa Sản

Sinh đôi được xem là một chuyện may mắn của nhiều gia đình. Đặc biệt là những gia đình thích đông con.

“Làm mẹ của cặp sinh đôi là chuyện rất may mắn đối với tôi. Mỗi khi nhìn cả hai bé giống nhau như khuôn đúc đều khiến tôi cảm giác vui sướng trong lòng, giống như tôi trúng được giải đặc biệt mà hiếm người có được. Thế nhưng sau 1 tháng, tôi nghe tin chị họ và người bạn thân của tôi đều sinh đôi, tôi cảm thấy rất kinh ngạc, bởi tôi luôn nghĩ tỉ lệ mang đa thai và sinh đôi rất hiếm. Cớ sao những người xung quanh tôi đều sinh đôi thế nhỉ?”.

Thực tế, gần đây trường hợp mẹ sinh đôi không còn là chuyện hiếm. Tại sao có trường hợp này và đây là câu trả lời của bác sĩ khoa sản.

1. Tuổi của người mẹ

Sinh đôi có 2 hình thái là song sinh cùng trứng và song sinh khác trứng.

Song sinh khác trứng là hiện tượng hai quả trứng cùng rụng một lúc và thụ thai với hai tinh trùng hoàn toàn riêng biệt trong cùng một đợt.

Song sinh cùng trứng là hiện tượng một trứng thụ tinh với một tinh trùng, tạo nên một hợp tử. Hợp tử này sẽ tiếp tục phân chia làm hai phần ngay sau quá trình thụ tinh để phát triển thành hai cá thể riêng biệt.

Thông thường, mỗi lần phụ nữ chỉ rụng 1 trứng, nhưng theo độ tuổi ngày càng tăng thì khả năng kiểm soát việc rụng trứng sẽ giảm, kèm theo đó là hormone mất cân bằng dẫn đến khả năng rụng hai quả trứng cùng lúc. Đó cũng là lý do nhiều sản phụ cao tuổi tăng dễ mang đa thai và sinh đôi.

2. Y học tiến bộ

Đối với những gia đình khó khăn trong việc mang thai sẽ nhờ cậy đến sự giúp đỡ của y học để việc thụ thai trở nên dễ dàng. Do đó, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp tối ưu gúp các cặp vợ chồng dễ có thai và sinh ra những thiên thần.

Dưới sự hỗ trợ của các kỹ thuật y khoa, đưa một trứng đã được thụ tinh vào tử cung của người phụ nữ. Trứng có thể phân chia làm hai và hình thành song bào thai cùng trứng. Đó là nguyên nhân những sản phụ tiến hành phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm dễ mang đa thai và sinh đôi.

3. Yếu tố di truyền

Nếu sản phụ có chị em sinh đôi hoặc trong gia đình có chị hay em sinh đôi thì khả năng mang thai đôi cũng tăng cao. Ngoài ra, nếu cả bên nội lẫn bên ngoại đều đã có trường hợp sinh đôi thì khả năng chị em mang song thai sẽ tăng lên.

Bác Sĩ Sản Khoa Chỉ Ra 3 Dấu Hiệu Mang Thai Ngoài Tử Cung Phụ Nữ Cần Lưu Ý

Theo bác sĩ Nguyễn Hùng Sơn (Bệnh viện Phụ sản Hà Nội), nếu không xử lý kịp thời, thai ngoài tử cung sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ, thậm chí dẫn tới vô sinh.

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Nguyễn Hùng Sơn (Trưởng khoa D3 – Bệnh viện Phụ sản Hà Nội)

Thai ngoài tử cung là hiện tượng trứng đã thụ tinh nhưng không nằm trong tử cung mà phát triển ở một vị trí khác, như ống dẫn trứng (thường gặp nhất), buồng trứng, cổ tử cung, hay trong ổ bụng. Một vị trí đặc biệt khác của thai ngoài tử cung là thai bám ở vết mổ cũ đã mổ lấy thai trước đó.

Bác sĩ Nguyễn Hùng Sơn (Trưởng khoa D3 – Bệnh viện Phụ sản Hà Nội) cho biết, tỷ lệ thai ngoài tử cung là 1 – 2 % các ca đẻ (tức là 100 ca thì có 1 – 2 ca). Mỗi ngày, bệnh viện Phụ sản Hà Nội tiếp nhận nhiều trường hợp thai ngoài tử cung, có cả trường hợp thường gặp và trường hợp hiếm.

Dấu hiệu thai ngoài tử cung

Theo BS Hùng Sơn, mang thai ngoài tử cung gồm 3 dấu hiệu lâm sàng chính:

Chậm kinh: Với thai ngoài tử cung, chậm kinh là dấu hiệu đặc biệt có giá trị khi kinh nguyệt của người phụ nữ đều.

Đau bụng: Khi đau bụng, một trong hai bên hố chậu đau âm ỉ hoặc thành từng cơn. Khi khối thai vỡ thì thai phụ thấy đau nhói và choáng.

Ra máu: Máu âm đạo sẫm màu, ra từng đợt hoặc kéo dài sau 1 vài tuần chậm kinh.

Khi thăm khám lâm sàng, thấy có máu đen, cổ tử cung tím, mềm, đóng, tử cung to hơn bình thường, di động tử cung đau, bên cạnh tử cung có khối không rõ ranh giới, di động đau. Nếu khối huyết tụ thành nang, sẽ thấy tiểu khung là 1 khối dính, mật độ chắc, không di động, khó xác định được tử cung.

Khi thăm khám bụng thấy bụng chướng, có phản ứng thành bụng, có cảm ứng phúc mạc khi chửa ngoài tử cung vỡ gây lụt máu ở bụng. Trong trường hợp này, bác sĩ chọc dò túi cùng sau thấy có máu loãng không đông.

Bên cạnh những dấu hiệu lâm sàng và thăm khám, thai phụ cũng cần phải thực hiện những xét nghiệm, siêu âm cần thiết để chắc chắn đó là thai ngoài tử cung.

” Khi xét nghiệm máu, số lượng hồng cầu giảm, huyết sắc tố giảm, Hematocrit (Hct) giảm, siêu âm (có thể siêu âm đầu dò âm đạo hoặc siêu âm ổ bụng) không thấy túi thai trong buồng tử cung, ngoài tử cung có hình ảnh túi ối, có thể thấy mầm thai hoặc tim thai”, BS Hùng Sơn nói.

Dấu hiệu của thai ngoài tử cung rất dễ nhầm với một số bệnh và biến chứng khác, đặc biệt là sảy thai. Vì vậy, khi có các dấu hiệu trên, thai phụ cần tới ngay bác sĩ chuyên khoa để thăm khám và siêu âm.Trường hợp bệnh nhân không đi khám sớm nếu thai ngoài tử cung vỡ sẽ dẫn đến mất máu, nhiều bệnh nhân có thể sốc do mất máu, biểu hiện chóng mặt, hoa mắt hay ngất xỉu, thậm chí là tử vong.

Nguyên nhân dẫn đến thai ngoài tử cung

BS Hùng Sơn cho biết, nguyên nhân chính của mang thai ngoài tử cung gồm:

Nguyên nhân ở vòi tử cung: Thai phụ bị viêm dính vòi tử cung (chủ yếu do nhiễm Chlamydia), các bất thường bẩm sinh của vòi tử cung, phẫu thuật tạo hình vòi tử cung, dính bên ngoài sau viêm phúc mạc, vòi tử cung quá dài, vòi tử cung bị xoắn, co bóp và nhu động bất thường của vòi tử cung.

Các nguyên nhân khác: khối u ở phần phụ (u buồng trứng), lạc nội mạc tử cung, can thiệp vào buồng tử cung (nạo thai), sử dụng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản…

Phương pháp điều trị thai ngoài tử cung

Mỗi phương pháp điều trị mang thai ngoài tử cung đều có tiêu chuẩn y khoa riêng. Căn cứ vào độ lớn của khối thai và các xét nghiệm chuyên khoa, bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp điều trị phù hợp và tốt nhất cho thai phụ.

Điều trị nội khoa: Phương pháp này được thực hiện trong trường hợp khối thai nhỏ, nồng độ Beta HCG dưới 5000 UI/ml. Bác sĩ sẽ điều trị bằng thuốc Methotrexat – MTX (thuốc diệt tế bào non). Nếu cách này thất bại, bác sĩ sẽ chỉ định chuyển qua phương pháp phẫu thuật.

Điều trị ngoại khoa: Bao gồm mổ mở hoặc mổ nội soi để cắt khối thai.

Nếu mổ mở, bác sĩ sẽ xử trí theo tổn thương, bệnh nhân có thể bị cắt cả khối thai và vòi tử cung hoặc lấy khối thai bảo tồn vòi tử cung.

Mổ nội soi là phương pháp phổ biến hiện nay. Với phương pháp này, bác sĩ cũng sẽ xử trí theo tổn thương giống như mổ mở, nhưng với nhiều ưu điểm, mổ nội soi được nhiều bệnh nhân và bác sĩ lựa chọn để điều trị.

Cách phòng tránh thai ngoài tử cung

Phụ nữ mang thai ngoài tử cung sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe sinh sản. Hiện tượng này khiến phụ nữ giảm khả năng thụ thai về sau, hoặc có thể bị thai ngoài tử cung lại vào lần mang thai kế tiếp, thậm chí có thể dẫn tới vô sinh.

Vì vậy, để phòng ngừa và hạn chế mang thai ngoài tử cung, BS Nguyễn Hùng Sơn đã đưa ra một số lưu ý cho các chị em.

Thứ nhất, khi phụ nữ phát hiện các bệnh như viêm vòi tử cung, viêm dính vòi tử cung, chỉnh sửa bất thường bẩm sinh ở vòi tử cung thì cần điều trị một cách tích cực và triệt để, đặc biệt là viêm nhiễm do Chlamydia. Chú ý trong phẫu thuật tạo hình vòi tử cung, tránh hiện tượng gấp khúc, xoắn của vòi tử cung.

Sau khi điều trị mang thai ngoài tử cung, chị em nên đợi ít nhất 6 tháng đến 1 năm mới có thai trở lại. Lúc này, cơ thể người phụ nữ đã ổn định nên sẽ tránh được những biến chứng của việc bị thai ngoài tử cung trước đó.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sản Phụ Khoa Phúc Thiện trên website Dsb.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!