Xu Hướng 12/2022 # Tìm Hiểu Mang Thai Ở Tuổi Vị Thành Niên, Hiv/Aids Tim Hieu Tuoi Vi Thanh Nien Va Hiv Aids Ppt / 2023 # Top 13 View | Dsb.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Tìm Hiểu Mang Thai Ở Tuổi Vị Thành Niên, Hiv/Aids Tim Hieu Tuoi Vi Thanh Nien Va Hiv Aids Ppt / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Mang Thai Ở Tuổi Vị Thành Niên, Hiv/Aids Tim Hieu Tuoi Vi Thanh Nien Va Hiv Aids Ppt / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Dsb.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

SINH HỌCNhóm 5Bài thuyết trình của nhóm chúng em bố cục gồm: Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên – Hiện trạng – Nguyên nhân – Hậu quả – Biện pháp Các bệnh lây qua đường tình dục – Bệnh lậu – Bệnh giang mai – Căn bệnh thế kỉ HIV ; Đại dịch AIDS – Thảm họa của loài người Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thaiVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênHiện trạng: – Như chúng ta đã biết, vị thành niên theo tổ chức y tế thế giới (WHO) là nhóm người trong lứa tuổi 10-19 tuổi. Vị thành niên có tỉ lệ khá lớn trong dân số thế giới, trong đó có tới 500 triệu vị thành niên phần lớn đã quan hệ tình dục

Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênHiện trạng: – Mang thai ở lứa tuổi vị thành niên là những trường hợp phụ nữ mang thai trước 18 tuổi. Một số phụ nữ mang thai và sinh con ở độ tuổi vị thành niên đã lập gia đình, tuy nhiên còn một bộ phận đáng kể mang thai là vị thành niên còn rất trẻ, chỉ có 14, 15 hoặc 17 tuổi chưa chồng, mà theo Luật hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn là 18 tuổi đối với nữ và 20 tuổi đối với nam, chỉ khi đến độ tuổi này thì việc lập gia đình, mang thai, sinh con mới là hợp pháp

– Hiện nay thực trạng phá thai to ở vị thành niên đang trở nên phổ biến, chiếm hơn 10% trong tổng số ca phá thai và tập trung chủ yếu ở học sinh, sinh viên. – Việt Nam có tỉ lệ nạo phá thai đứng thứ 5 trên thế giới: – Ở nước ta, 50% dân số dưới 20 tuổi thì có 20% có độ tuổi 10-19, tức là khoảng 15 triệu người mang thai ở tuổi vị thành niên – Theo thống kê chính thức năm 1995 cả nước ta có chừng 1,5 triệu ca nạo hút thai thì số vị thành niên trong đó chiếm tới 1/5 tổng số – Trong tổng kết toàn cầu, trong số tử vong do thai sản thì 15% là nạo phá thai bị nhiễm trùng ở đọ tuổi 15-19 ước tính khoảng 5 triệu trong tổng số 50 triệu ca phá thai hàng năm, khoảng 20-60% những người sinh con dưới 20 tuổi là ngoài ý muốn Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên Nguyên nhân: – Ở độ tuổi dậy thì, các em có nhiều biến đổi về tâm lý và sinh lý, bản năng tình yêu và tình dục cũng bắt đầu trỗi dậy, vì vậy, nhu cầu tình dục với người khác giới xuất hiện. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận các nguồn thông tin chính thống về sức khỏe sinh sản và tình dục của trẻ vị thành niên rất hạn chế. – Do các trẻ em gái bị xâm hại tình dục, bị bóc lột tình dục, trong khi bản thân không biết cách tự bảo vệ

Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên – Do cha mẹ các em thường ngại, lảng tránh khi các em hỏi hay nhắc tới những vấn đề về sức khỏe sinh sản (SKSS). Nhà trường cũng rất ít khi đề cập đến giáo dục SKSS, những lớp học, câu lạc bộ tổ chức tuyên truyền về vấn đề này cũng thiếu nhiều, vì vậy các em không có các kênh thông tin chính thống để tìm hiểu về vấn đề này. – Do ảnh hưởng của trào lưu trong giới trẻ, chạy theo quan niệm cứ thích là quan hệ tình dục, sống buông thả; báo chí đăng tải quá nhiều về vấn đề này nhưng làm không đến nơi đến chốn, không phân tích rõ các hậu quả của việc mang thai ngoài ý muốn, mang thai khi còn quá trẻ… vì vậy không có tác dụng cảnh báo, răn đe. – Do phim ảnh hiện nay cũng đề cập đến những vấn đề tình dục quá nhiều song không có định hướng rõ ràng cũng là nguyên nhân khơi dậy, đánh động bản năng tình yêu, tình dục của các em; đặc biệt trẻ em bây giờ không phải lao động chân tay nhiều, ít vận động nên dẫn đến dư thừa năng lượng. Khi năng lượng không được sử dụng, nó sẽ chuyển vào các hoạt động khác để lấy lại cân bằng tâm lý, vì thế nhiều em đã tìm đến những “cuộc yêu” vụng trộmVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên Hậu quả: – Khi mang thai ở tuổi vị thành niên dễ dẫn đến các biến chứng do thai nghén như: Dễ bị sẩy thai, đẻ non, nhiễm độc thai nghén, làm tăng nguy cơ tử vong mẹ hoặc làm mẹ quá trẻ, cơ thể chưa phát triển đầy đủ dẫn đến thiếu máu, thai kém phát triển dễ bị chết lưu hoặc trẻ thiếu cân, con suy dinh dưỡng. -Nạo phá thai không an toàn, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và vô sinh trong tương lai, gây nguy cơ tử vong cao; bên cạnh đó, rất nhiều phụ nữ chịu những hậu quả nghiêm trọng về tinh thần sau khi nạo phá thai. – Đẻ khó do khung chậu chưa phát triển đầy đủ, cần phải can thiệp bằng các thủ thuật và phẫu thuật trong quá trình sinh con. -Tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong của trẻ sơ sinh cao hơn nhiều so với các bà mẹ ở tuổi trưởng thành. Dễ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Trong đó có cả HIV/AIDS. – Có thai ở tuổi vị thành niên dẫn đến bỏ học giữa chừng, ảnh hưởng tới tương lai sau này. Việc bỏ học giữa chừng sẽ dẫn tới việc mất cơ hội có tương lai nghề nghiệp tốt đẹp.

Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên Hậu quả: – Làm mẹ sớm dễ bị căng thẳng, khủng hoảng tâm lý, tổn thương tình cảm và thiếu điều kiện tốt trong cuộc sống. -Tử vong ở mẹ để lại cho con thiếu sự chăm sóc của mẹ và làm tăng thêm gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Ảnh hưởng đến tâm lí, sức khoẻ, cuộc sống và cả những người xung quanh bạnVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niênVấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên Biện pháp: Để thật sự giúp ngăn ngừa việc mang thai sớm ở lứa tuổi vị thành, chúng ta cần phải tạo điều kiện cho trẻ vị thành niên hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn thông qua các hoạt động như giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản và thực hiện chương trình giáo dục giới tính toàn diện kết hợp với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm lứa tuổi vị thành niên. Đồng thời giúp trẻ vị thành niên có một quan điểm tích cực về tình dục, kỹ năng sống để có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của mình, nhận thức được hậu quả của việc mang thai sớm ở lứa tuổi vị thành niên. Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên

Các bệnh lây qua đường tình dụcHIV/AIDSLậuChlamydia hạ cam HSV (Bệnh tình dục) Bệnh lậu: Là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục hàng đầu trên thế giới, do vi khuẩn Gram âm Neisseria gonorrhoeae gây ra. * Biểu hiện:Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: Lậu cấp tính và lậu mạn tính. – Lậu cấp tính: Bệnh lậu cấp tính thể hiện ở nam giới và nữ giới có khác nhau. + Ở nam giới: Sau thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 đến 6 ngày đa số các trường hợp có triệu chứng của viêm niệu đạo cấpSong cầu khuẩn – Bệnh lậutính: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc tiểu ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng. + Ở nữ giới: Thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở nữ giới rất kín đáo nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.Vì vậy ít có triệu chứng gì biểu hiện sự cấp tính của bệnh lậu ở nữ giới. Có thể thấy có tiểu dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).

Bệnh lậu: * Biểu hiện:Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: Lậu cấp tính và lậu mạn tính.– Lậu cấp tính: Bệnh lậu cấp tính thể hiện ở nam giới và nữ giới có khác nhau.Ở nam giới: Sau thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 đến 6 ngày đa số các trường hợp có triệu chứng của viêm niệu đạo cấp tính: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc tiểu ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng.Ở nữ giới: Thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở nữ giới rất kín đáo nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.Vì vậy ít có triệu chứng gì biểu hiện sự cấp tính của bệnh lậu ở nữ giới. Có thể thấy có tiểu dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).

Bệnh lậu: * Con đường lây lan của bệnh: – Bệnh lậu chủ yếu lây qua đường tình dục, qua việc dùng chung khăn tắm, quần áo lót có dính mủ niệu đạo, âm đạo của người bị lậu – Bên cạnh bệnh lậu gặp ở đường sinh dục-tiết niệu còn có thể gặp bệnh lậu do viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh. Trường hợp này là do người mẹ mắc bệnh lậu, khi đứa trẻ sinh đi qua cổ tử cung, âm đạo mà bị lây bệnh. Biểu hiện là trẻ lọt lòng mắt nhắm nghiền, kết mạc sưng to, chảy mủ vàng. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời đứa trẻ có thể bị mù. – Một số trường hợp bị lậu mà không phát hiện và điều trị sớm có thể gây nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn lậu, viêm khớp do lậu, tuy nhiên các tỷ lệ này thấp.

Bệnh lậu: * Biểu hiện:Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: Lậu cấp tính và lậu mạn tính.– Lậu cấp tính: Bệnh lậu cấp tính thể hiện ở nam giới và nữ giới có khác nhau.Ở nam giới: Sau thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 đến 6 ngày đa số các trường hợp có triệu chứng của viêm niệu đạo cấp tính: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc tiểu ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng.Ở nữ giới: Thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở nữ giới rất kín đáo nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.Vì vậy ít có triệu chứng gì biểu hiện sự cấp tính của bệnh lậu ở nữ giới. Có thể thấy có tiểu dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).

Bệnh lậu: *Hậu quả: – Đối với nam giới gây chít hẹp niệu đạo là biến chứng thường hay gặp nhất và cũng là vấn đề làm cho bệnh nhân mắc lậu mạn tính buồn phiền nhất do gây tiểu khó, bí tiểu rất khó chịu và đến lúc không thể chịu được. Nhiều trường hợp chít hẹp niệu đạo phải thông tiểu nhiều lần đưa đến viêm đường tiết niệu ngược dòng rất phức tạp cho điều trị. – Đối với nữ giới: Gây viêm âm hộ và các tuyến ở vùng âm hộ, âm đạo tạo thành các túi mủ. Đang tuổi sinh đẻ nếu có thai thì rất dễ lây cho con sau khi sinh đặc biệt là gây viêm kết mạc mắt có thể dẫn đến mù lòa. Cũng cần lưu ý rằng mắc lậu mạn tính rất dễ gây vô sinh do lây nhiễm gây viêm cổ tử cung, tử cung, vòi trứng, buồng trứng và tiểu khung mà để khắc phục điều đó (chữa vô sinh) thật không đơn giản chút nào.Ngoài ra có thể gây viêm bàng quang biểu hiện tiểu dắt, buốt.

Bệnh lậu: * Biểu hiện:Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: Lậu cấp tính và lậu mạn tính.– Lậu cấp tính: Bệnh lậu cấp tính thể hiện ở nam giới và nữ giới có khác nhau.Ở nam giới: Sau thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 đến 6 ngày đa số các trường hợp có triệu chứng của viêm niệu đạo cấp tính: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiểu. Mủ tự chảy ra hoặc tiểu ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng.Ở nữ giới: Thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở nữ giới rất kín đáo nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.Vì vậy ít có triệu chứng gì biểu hiện sự cấp tính của bệnh lậu ở nữ giới. Có thể thấy có tiểu dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).

Bệnh lậu: * Phòng ngừa – Tuyên truyền giáo dục để người dân biết tác hại của bệnh lậu đặc biệt là gái mại dâm, người đồng tính luyến ái. – Không quan hệ tình dục bừa bãi, thủy chung một vợ một chồng. – Không dùng chung quần áo, khăn tắm với người mắc bệnh lậu. – Những người bị bệnh lậu cần được khám và điều trị dứt điểm. Cần điều trị cho cả cặp vợ chồng hoặc cho từng cặp tình nhân. Bệnh giang mai Là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây ra. Nó được phát hiện rabowir Schaudinn và Hoffmann năm 1905. Đây là 1 loại xoắn khuẩn hình lò xo 6-10 vòng xoắn, đường kính ngang không quá Nguyên nhân: 1.Nguyên nhân lây nhiễm trực tiếp do quan hệ tình dục: đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh giang mai. Trong vòng một năm kể từ khi bị lây nhiễm giang mai mà bệnh nhân không được điều trị thì trong giai đoạn này bệnh có tính lây truyền mạnh nhất, càng về giai đoạn sau của bệnh thì tính truyền nhiễm càng giảm, sau đó 4 năm kể từ khi mắc bệnh thì bệnh giang mai thường không lây truyền trực tiếp do quan hệ tình dục nữa.

2.Nguyên nhân lây nhiễm qua máu: người mắc bệnh giang mai ở giai đoạn ủ bệnh thì trong máu có mang xoắn khuẩn giang mai do đó có thể lây nhiễm cho người khác qua con đường truyền máu và dùng chung kim tiêm.

3.Nguyên nhân truyền từ mẹ sang con: thai phụ bị bệnh giang mai có thể lây nhiễm cho thai nhi thông qua nhau thai, thông thường bệnh sẽ lây truyền từ mẹ sang con sau tháng thứ 4 của thai kì. Phụ nữ mắc bệnh giang mai hơn 4 năm mà không được điều trị, tuy thường không truyền nhiễm qua quan hệ tình dục nữa nhưng trong thời kì mang thai vẫn có thể lây truyền cho thai nhi, thời gian bệnh càng lâu thì tính lây nhiễm càng giảm.

4.Nguyên nhân các con đường lây nhiễm khác: Bệnh giang mai có thể lây nhiễm qua các tiếp xúc như hôn môi, bú vú; lây nhiễm khi tiếp xúc với những vật dụng mà người bệnh đã sử dụng như: quần áo, giường ngủ, khăn mặt, dao cạo, khăn tắm, bồn tắm…Các dụng cụ này có thể chứa xoắn khuẩn giang mai của người bệnh, khi tiếp xúc sẽ lây truyền cho người khác.Bệnh giang mai

Triệu chứng:

Vòng tránh thai:

– Ưu điểm: + Có tác dụng lâu dài (5 – 10 năm). + Dễ tháo ra nếu khách hàng muốn. + Có hiệu quả tránh thai lên tới 98%. – Nhược điểm : + Có thể cảm thấy hơi đau trong một số ngày đầu sau khi đặt DCTC. + Ra máu kinh nhiều hơn hoặc kéo dài ngày hơn, nhưng thường giảm đi sau vài tháng. + Không phải ai cũng sử dụng được. Nếu không hợp, nó sẽ khiến bạn đau bụng, đau lưng hoặc ra máu kinh nhiều, thậm chí gây thiếu máu. + Khi mang vòng, nếu bạn bị viêm nhiễm đường sinh dục thì viêm nhiễm có thể theo vòng lan lên trên, gây viêm phần phụ và có thể gây chửa ngoài tử cung.

* Giúp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Vòng tránh thai:

– Ưu điểm: + Có tác dụng lâu dài (5 – 10 năm). + Dễ tháo ra nếu khách hàng muốn. + Có hiệu quả tránh thai lên tới 98%. – Nhược điểm : + Có thể cảm thấy hơi đau trong một số ngày đầu sau khi đặt DCTC. + Ra máu kinh nhiều hơn hoặc kéo dài ngày hơn, nhưng thường giảm đi sau vài tháng. + Không phải ai cũng sử dụng được. Nếu không hợp, nó sẽ khiến bạn đau bụng, đau lưng hoặc ra máu kinh nhiều, thậm chí gây thiếu máu. + Khi mang vòng, nếu bạn bị viêm nhiễm đường sinh dục thì viêm nhiễm có thể theo vòng lan lên trên, gây viêm phần phụ và có thể gây chửa ngoài tử cung.

* Giúp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Bao cao su: – Cơ sở: Bao cao su có tác dụng giống như một “túi” đựng tinh dịch khi quan hệ tình dục vì thế tinh trùng không thể đi vào bộ phận sinh dục nữ để gặp trứng – Ưu điểm: + Không đòi hỏi phải kê đơn hoặc khám bác sĩ. + Giúp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. – Nhược điểm: + Gián đoạn hoạt động tình dục. + Luôn phải có sẵn bao cao su trước khi có quan hệ tình dục. + Một số người có thể bị dị ứng với cao su. + Thuốc tránh thai hàng ngày Thuốc tránh thai: – Cơ sở: Thuốc tránh thai có tác dụng như hoocmon của thể vàng progesteron ngăn chặn tuyến yên tiết hoocmon thúc đẩy trứng chín và rụng, nên khi dùng thuốc trứng sẽ không rụng.. Thuốc tránh thai:

– Ưu điểm: + Hiệu quả tránh thai hài lòng nhất (tỉ lệ thất bại chỉ bằng ½ so với sử dụng vòng tránh thai). + Ít tác dụng phụ. Hiện có nghiên cứu còn chỉ ra rõ rằng, thuốc tránh thai đường uống có tác dụng phòng chống ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng, đồng thời không tăng thêm nguy cơ ung thư tuyến sữa. – Nhược điểm : + Tác dụng phụ chủ yếu là ở hệ thống tim mạch, làm tăng thêm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng mỡ máu và nguy cơ tắc động mạch. + Ngoài ra, phải uống hàng ngày vào một giờ nên khá phiền phức, nếu quên làm cho việc tránh thai thất bại. + Một số người có thể gặp các triệu chứng như đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, rối loạn kinh nguyệt trong thời gian đầu sử dụng thuốc. + Không có tác dụng phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Que cấy tránh thai: – Cơ sở: + Làm đặc chất nhầy cổ tử cung, ngăn không cho tinh trùng xâm nhập buồng tử cung. + Ngăn sự rụng trứng (ở hơn phân nửa các chu kỳ). Vòng tránh thai:

– Ưu điểm: + Đối tượng sử dụng của Implanon là rất rộng. Các bà mẹ đang cho con bú, phụ nữ trên 40 tuổi, người có u xơ tử cung có thể sử dụng Implanon an toàn. Các bà mẹ tốt nhất nên đợi trẻ hơn 6 tuần tuổi mới bắt đầu sử dụng que cấy này. + Các trường hợp có yếu tố nguy cơ cho tim mạch như hút thuốc lá, béo phì, tiểu đường hay cả bệnh nhân cao huyết áp đều có thể dùng Implanon +Implanon chỉ đặt 1 lần duy nhất, chỉ với 1 que cấy, không yêu cầu người sử dụng phải tuân thủ. Không phải uống thuốc mỗi ngày hay phải chuẩn bị trước mỗi lần quan hệ, Implanon cũng không ảnh hưởng đến quan hệ tình dục. – Nhược điểm: + Vô kinh sau khi cấy que hoặc gây rong kinh trong vài tháng đầu. + ra máu thấm giọt âm đạo trong 3 đến 6 tháng đầu. Ngoài ra, chị em có thể gặp phải các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, căng ngực, buồn nôn … + Cũng như dụng cụ tử cung, Implanon cần phải được đặt tại cơ sở y tế và được thực hiện bởi nhân viên y tế được huấn luyện về cách đặt và rút que cấy.Vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên * Ngoài ra còn có các biện pháp như: + Thuốc tiêm tránh thai (Đây là một mũi tiêm ở cánh tay phóng thích hoóc môn progestin, tăng tiết chất nhầy ở cổ tử cung và làm mỏng nội mạc tử cung. Điều này cũng ngăn rụng trứng, giữ tinh trùng không kết hợp được với trứng.), + Triệt sản ở nam và nữBài thuyết trình của nhóm chúng emđến đây là kết thúcCảm ơn cô và các bạnđã chăm chú lắng nghe

Mang Thai Ở Phụ Nữ Hiv/Aids: Những Điều Cần Biết Về Xét Nghiệm, Điều Trị / 2023

Bài viết tham vấn chuyên môn bởi BSCK II Phạm Thị Xuân Minh – Khoa Sản phụ khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. HIV là virus gây suy giảm miễn dịch ở người. Những người phụ nữ mang thai khi mắc phải hội chứng này sẽ phải đối mặt với sự đe dọa nguy hiểm về sức khỏe miễn dịch của mẹ và khả năng truyền virus HIV qua tử cung cho con.

1. Các con đường lây truyền HIV từ mẹ sang con

HIV truyền từ mẹ sang con qua nhau thai trong giai đoạn mang thai, ngay từ tuần thứ 8 của thai kỳ, chiếm khoảng 17%- 25%.

HIV lây truyền qua con đường máu và dịch từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ, chiếm khoảng 50%- 60%.

HIV lây từ mẹ sang con trong lúc cho con bú, có thể từ sữa mẹ hoặc vết nứt, trầy ở núm vú là nguyên nhân, trường hợp này chiếm 15%- 25%.

Những con đường lây truyền HIV từ mẹ sang con bao gồm:

2. Triệu chứng phụ nữ mang thai nhiễm HIV/AIDS

Những triệu chứng lâm sàng ở người bị nhiễm HIV/AIDS theo những giai đoạn khác nhau bao gồm:

Không có triệu chứng

Hạch to toàn thân dai dẳng.

2.1 Giai đoạn lâm sàng I

Sút cân không rõ nguyên nhân, < 10% trọng lượng cơ thể.

Nhiễm khuẩn đường hô hấp lặp lại nhiều lần.

Bệnh Zona

Loét miệng.

Phát ban dát sẩn, ngứa.

Nhiễm nấm móng.

2.2 Giai đoạn lâm sàng II

Tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân.

Sốt không rõ nguyên nhân, liên tục kéo dài trên 1 tháng.

Nhiễm nấm Candida ở miệng tái diễn.

Nhiễm khuẩn nặng do vi khuẩn.

Viêm loét miệng hoại tử cấp.

2.3 Giai đoạn lâm sàng III

Hội chứng suy mòn do HIV

Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci.

Nhiễm Candida thực quản

Lao ngoài phổi.

Sarcoma Kaposi

Một số bệnh lý kèm khác như: viêm cơ tim, bệnh thận…

2.4 Giai đoạn lâm sàng IV: triệu chứng nặng.

Chụp X quang phổi, AFB đờm và những cận lâm sàng khác để hỗ trợ chẩn đoán lao phổi, lao ngoài phổi và những bệnh lý khác.

Xét nghiệm CD4, các xét nghiệm giúp lựa chọn phác đồ ARV như HbsAg, anti- HCV.

Xét nghiệm creatinin, lipid, glucose máu nếu sản phụ sử dụng TDF và các thuốc ức chế protease.

3. Các xét nghiệm để đánh giá phụ nữ mang thai nhiễm HIV

Lưu ý nếu xét nghiệm HIV cho kết quả âm tính, tư vấn bà mẹ nên xét nghiệm lại trong giai đoạn cuối của thai kỳ đối với những khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao.

4. Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS có nên sinh con hay không ?

Phụ nữ bị nhiễm HIV hay kể cả những gia đình mà bố mẹ nhiễm HIV vẫn có khả năng sinh ra con hoàn toàn bình thường nếu mẹ được điều trị dự phòng sớm bằng thuốc kháng virus ARV và tuân theo những hướng dẫn về việc nuôi con mà các bác sĩ tư vấn.

Tư vấn về những con đường lây truyền HIV từ mẹ sang con và những biện pháp phòng tránh lây truyền HIV sang con.

Nêu những nguy cơ có thể xảy ra khi mang thai và những vấn đề về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ sau khi sinh để người phụ nữ mang thai có thể lựa chọn việc chấm dứt thai kỳ hoặc tiếp tục mang thai.

Với những phụ nữ nhiễm HIV nhưng không muốn sinh con thì phá thai là lựa chọn để ngăn chặn việc lây truyền HIV cho con. Chú ý những sang chấn tâm lý về gia đình và xã hội mà người phụ nữ này có thể gặp phải.

Tư vấn quan hệ tình dục an toàn để tránh lây nhiễm HIV.

Tránh tiếp xúc với người mắc bệnh truyền nhiễm như lao và cúm.

Hỗ trợ về mặt tâm lý cho người phụ nữ mang thai nhiễm HIV: giải thích và động viên cổ vũ tinh thần để người phụ nữ hiểu được và chấp nhận, vượt qua những giai đoạn khó khăn. Cam kết giữ bí mật về kết quả bệnh của sản phụ.

5. Tư vấn HIV/AIDS cho phụ nữ mang thai

6. Nguyên tắc và các biện pháp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

Dự phòng bằng thuốc ARV

Dùng sữa thay thế cho con

Áp dụng những phương pháp chăm sóc, điều trị sau khi sinh con.

Khi đã xác định người phụ nữ mang thai dương tính với HIV, cần sớm áp dụng các biện pháp can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, bao gồm:

Chỉ định điều trị ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV:

Giai đoạn lâm sàng IV, không phụ thuộc số lượng CD4.

Giai đoạn lâm sàng III, CD4 < 350 tế bào/mm3.

Giai đoạn lâm sàng I và II, CD4 < 250 tế bào/mm3.

Phụ thuộc vào giai đoạn trên lâm sàng và số lượng tế bào CD4 khi xét nghiệm:

Nếu bệnh nhân không được làm xét nghiệm CD4, chỉ định điều trị ARV khi bệnh đang ở giai đoạn lâm sàng III và IV.

Lưu ý rằng đối với phụ nữ nhiễm HIV đang sử dụng thuốc ARV, nếu có thai thì vẫn tiếp tục điều trị thuốc ARV nhưng cần thông báo đến những cơ sở y tế để có thể thay thế phác đồ điều trị vì một số loại thuốc ARV có ảnh hưởng đến thai nhi.

Để tránh những hậu quả nguy hiểm không mong muốn cho những phụ nữ mang thai mắc phải HIV/AIDS, cần phải hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất để những sản phụ này được tư vấn HIV cho phụ nữ mang thai một cách kịp thời, từ đó sẽ có phương pháp điều trị cũng như dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con phù hợp nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Có Thai Ngoài Ý Muốn Ở Tuổi Vị Thành Niên / 2023

Việc có thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là một cú sốc đối với gia đình. Khi trẻ lo sợ phải đối mặt với sự chối từ hoặc sỉ vả, trẻ có thể phá thai hoặc giữ bí mật về việc mang thai lâu nhất có thể.

Khi có thai ngoài ý muốn, trẻ vị thành niên thường phản ứng như thế nào?

Dù trong tình huống nào, việc có thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên vẫn là một cú sốc đối với gia đình và việc này không hề được chào đón một chút nào cả. Những người lâm vào tình cảnh này thường sống trong hỗn loạn, ít nhất là một thời gian. Sau đó, trẻ bắt buộc phải đưa ra quyết định đau đớn nhất trong cuộc đời mình. Đó là giữ lại đứa trẻ, như lựa chọn của 50% các bà mẹ tuổi vị thành niên, hay là bỏ thai?

Trẻ có thai ngoài ý muốn thường cảm thấy lo sợ và thậm chí còn nghĩ đến chuyện phá thai để che giấu bí mật này

Tuy nhiên, sự lo lắng về phản ứng của cha và mẹ không phải là lý do duy nhất khiến một cô gái giấu việc mình mang thai. Người phụ nữ trẻ có thể chối bỏ khủng khiếp, chối bỏ đơn giản là do họ không thể chấp nhận thực tế này. Ngày nay, thời trang áo rộng kiến các cô gái dễ dàng che giấu bụng bầu, và có thể che giấu trong suốt thời gian mang thai mà không ai nhận ra bụng cô ấy đang to dần. Vì vậy, nếu nghi ngờ con mình mang thai, mẹ có thể để ý một số dấu hiệu sau đây.

Các dấu hiệu cho biết trẻ vị thành niên mang thai

Trễ kinh. Trễ một hoặc nhiều kỳ kinh là dấu hiệu kinh điển của việc mang thai. Nhưng điều này lại khó khăn với trẻ ở tuổi vị thành niên, khi mà chu kỳ kinh nguyệt của trẻ chưa đều đặn. Vấn đề này cũng khó xác định đối với những trẻ bị tắt kinh do chế độ ăn uống hoặc tập luyện thể thao quá độ.

Buồn nôn hoặc nôn mửa.

Đột ngột ác cảm dữ dội với một số loại thức ăn, đặc biệt là thức ăn nhiều dầu mỡ, đồ chiên.

Núm vú hoặc vú bị đau.

Mệt mỏi bất thường.

Đi tiểu thường xuyên.

Thay đổi cảm xúc bất thường.

Các nguy cơ sức khỏe nếu trẻ vị thành niên có thai ngoài ý muốn

Việc có thai ngoài ý muốn ở độ tuổi vị thành niên sẽ có nhiều nguy cơ về sức khỏe cho cả mẹ và bé hơn so với những phụ nữ mang thai ở độ tuổi 20, 30. Nhưng nếu trẻ vị thành niên được chăm sóc, được hỗ trợ thì những nguy cơ này có thể giảm.

Theo thống kê có khoảng 1/3 các thiếu nữ từ 15 -19 tuổi và phân nửa các bé gái dưới 15 tuổi có thai ngoài ý muốn và không nhận được bất kỳ sự chăm sóc nào trong ba tháng đầu thai kỳ. Thiếu sự chăm sóc về y khoa có thể dẫn đến những vấn đề về sau, và nếu họ quyết định giữ đứa trẻ, nguy cơ cả mẹ lẫn bé gặp nguy hiểm sẽ tăng cao.

Nếu trẻ vị thành niên có thai ngoài ý muốn, trẻ có thể gặp một số vấn đề sau:

Thiếu chất dinh dưỡng: Không bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng trong khi mang thai ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Ví dụ như thiếu axit folic có thể gây khuyết tật bẩm sinh ở bé.

Huyết áp cao: Trẻ mang thai tuổi vị thành niên có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn so với phụ nữ mang thai ở những năm 20 hoặc 30 tuổi. Trẻ cũng có nguy cơ bị tiền sản giật cao hơn.

Trẻ vị thành niên có thai ngoài ý muốn sẽ có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn so với phụ nữ mang thai trên 20 tuổi

Sinh non: Một thai kỳ đủ tháng kéo dài khoảng 40 tuần. Một em bé chào đời trước 37 tuần được xem là trẻ sinh non. Bé được sinh ra càng sớm, càng có nhiều nguy cơ gặp các vấn đề về hô hấp, tiêu hóa, thị lực, nhận thức và các vấn đề khác.

Sinh con nhẹ cân: Trẻ vị thành niên có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao. Trẻ sơ sinh nhẹ cân có cân nặng chỉ khoảng 1,5 – 2,5 kg.

Nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục: Đối với trẻ mang thai tuổi vị thành niên có quan hệ tình dục trong khi mang thai, các bệnh lây qua đường tình dục, như chlamydia và HIV, là một mối quan tâm lớn, có thể ảnh hưởng đến tử cung và thai nhi.

Cảm giác một mình và cô đơn: Đặc biệt đối với những trẻ nghĩ rằng trẻ không thể nói cho cha mẹ biết việc mình mang thai, trẻ sẽ cảm thấy hoảng sợ, cô đơn, và đó là một vấn đề thực sự. Nếu không có sự hỗ trợ từ gia đình hoặc những người lớn khác, trẻ sẽ ít có khả năng ăn uống tốt, tập thể dục hoặc nghỉ ngơi đầy đủ, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của cả mẹ và bé.

Trẻ vị thành niên sẽ có cảm giác một mình và cô đơn nếu không có sự hỗ trợ của gia đình

Trầm cảm sau sinh: Trẻ mang thai tuổi vị thành niên có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh cao hơn. Trầm cảm có thể gây trở ngại cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh và cả bà mẹ trẻ, nhưng nó có thể được điều trị.

Làm thế nào để giảm các nguy cơ về sức khỏe cho trẻ mang thai tuổi vị thành niên?

Các gợi ý sau đây có thể giúp trẻ vị thành niên có thai ngoài ý muốn giảm các nguy cơ về sức khỏe:

Đi khám thai sớm: đi khám càng sớm càng tốt nếu trẻ nghĩ rằng mình đã có thai.

Không hút thuốc lá, dùng ma túy hay uống rượu: chúng gây hại cho thai nhi và cả sự phát triển của bà mẹ vị thành niên. Nếu trẻ không thể tự mình bỏ các thứ trên, bạn hãy nhờ sự giúp đỡ từ các bác sĩ, chuyên gia.

Dùng bao cao su khi quan hệ tình dục trong khi mang thai để ngăn nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục.

Dùng đủ vitamin trước khi sinh: ít nhất 0,4 mg axit folic mỗi ngày để giúp ngăn ngừa khuyết tật bẩm sinh cho em bé. Lý tưởng là nên dùng trước khi mang thai.

Hỗ trợ về tình cảm: đây là điều cực kỳ quan trọng. Sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình và cha của đứa bé sẽ là nguồn động lực lớn giúp trẻ vượt qua giai đoạn khó khăn này đấy.

Những Con Số Giật Mình Về Mang Thai Ở Tuổi Vị Thành Niên / 2023

NHÌN RA THẾ GIỚI…

Theo số liệu của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), hiện có khoảng hơn 500 triệu trẻ em gái đang sinh sống tại các nước đang phát triển. Trong số đó có hàng triệu trẻ em gái phải lập gia đình khi còn nhỏ tuổi; phải mang thai và sinh con khi các em chưa thực sự trưởng thành về mặt thể chất, tình cảm và chưa đủ trưởng thành về mặt xã hội để sẵn sàng làm mẹ. Cụ thể, trên toàn cầu, cứ 3 nữ  thanh niên  trong độ  tuổi  từ 20-24  thì có 1 người (tương đương với khoảng 70 triệu người) kết hôn trước lần sinh nhật thứ 18. Nếu xu hướng hiện nay không được cải thiện, trong vòng một thập kỷ tới sẽ có 142 triệu trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18 (tính tới thời điểm năm 2020). Điều này có nghĩa là mỗi năm sẽ có 14,2 triệu trẻ em gái, hay mỗi ngày sẽ có 39 ngàn trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18.

Bên cạnh đó, hàng năm có khoảng 16 triệu em gái tuổi từ 15-19 sinh con và cứ 10 trẻ vị thành niên (VTN) thuộc nhóm này thì có 9 VTN đã lập gia đình. Khu vực châu Phi thuộc tiểu vùng Sa mạc Shahara là nơi có có tỷ lệ sinh ở tuổi VTN cao nhất với 120 trẻ/1.000 trẻ VTN trong độ tuổi từ 13-19. Ở khu vực châu Mỹ La tinh và vùng Caribbean, tỷ lệ sinh con ở  tuổi VTN vẫn ở mức cao và chỉ mới bắt đầu giảm gần đây. Tương tự, số lượng bà mẹ sinh con ở tuổi VTN tại các nước ở khu vực Đông Nam Á hiện vẫn rất cao.

Đáng lưu tâm là các biến chứng khi mang thai và khi sinh  tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ cho các em gái tuổi từ 15-19 ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỷ  lệ  thương  tật  và  tử  vong do  nạo  thai  không  an  toàn  ở  trẻ  em  gái  VTN và nữ thanh niên trẻ cao; ước tính năm 2008 số ca phá thai không an toàn ở vị thành  niên trong độ  tuổi từ 15-19 tại các nước đang phát triển là khoảng 3 triệu ca; thai chết  lưu và  tử vong sơ sinh chiếm hơn 50% các ca sinh của các bà mẹ dưới 20 tuổi so với những bà mẹ từ 20-29 tuổi…

… VÀ VIỆT NAM

Theo thống kê của Vụ Sức khỏe Bà mẹ trẻ em-Bộ Y tế, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300 đến 400 ngàn ca phá thai ở độ tuổi 15-19 được báo cáo chính thức, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Còn theo Tổng cục Dân số-KHHGĐ, mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm trở lại đây giảm, nhưng tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ VTN, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng – chiếm hơn 20% các trường hợp phá thai. Cụ thể, báo cáo của Bệnh viện Phụ sản Trung ương tại một cuộc hội thảo được tổ chức mới đây cho thấy, thực trạng phá thai to ở VTN chiếm tỷ lệ khá cao, hơn 10% trong tổng số ca phá thai; các trường hợp phá thai to trên gặp nhiều nhất ở đối tượng học sinh, sinh viên. Còn theo báo cáo của Trung tâm Chăm sóc SKSS TP Hồ Chí Minh năm 2017, cứ 100 trường hợp trẻ sinh ra sống lại có 73 trường hợp phá thai, trong đó 2,4% là VTN… Điều đáng lưu ý, đây mới chỉ là thống kê từ các bệnh viện khu vực nhà nước, còn số liệu từ các bệnh viện tư, phòng khám tư thì chưa thống kê được…

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở VTN Việt Nam ngày càng sớm. Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn rất hạn chế – chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên.

KHUYẾN NGHỊ CỦA TỔNG CỤC DÂN SỐ

Không chỉ đơn thuần là một vấn đề về sức khỏe, mang thai ở tuổi VTN làm mất đi tiềm năng ở các em, rút ngắn cơ hội học hành, đánh mất hoặc hạn chế sự lựa chọn của các em trong cuộc sống hay khiến những bà mẹ trẻ và cộng  đồng nơi họ sinh sống chìm trong cảnh đói nghèo… Do đó, Vụ Truyền thông & Giáo dục,Tổng cục Dân số xin khuyến nghị :

Chúng ta cần thực hiện đầu tư sớm một cách có chiến lược vào giáo dục, chăm sóc sức khỏe và cuộc sống của trẻ em gái VTN, đồng thời bảo vệ các quyền con người cho các em. Việc này sẽ tạo ra vô số các tác động tích cực  tới cuộc sống của các em, giúp  làm giảm  tình  trạng mang  thai ngoài ý muốn ở tuổi VTN – một tình trạng có thể dẫn tới nhiều nguy hiểm cho các em. 

Thực hiện chương trình giáo dục giới tính toàn diện kết hợp với cung cấp dịch vụ SKSS và dịch vụ phòng chống HIV cho VTN. Cần đảm bảo rằng các dịch vụ này được cung cấp tới VTN một cách tế nhị, đảm bảo bí mật, không mang tính phán xét và không phân biệt đối xử, không hạn chế về mặt pháp  lý và phù hợp với các quy định quốc tế.

Ngăn ngừa kết hôn sớm bằng cách nâng tuổi kết hôn tối thiểu lên 18 tuổi, đảm bảo rằng các em gái được đi học và khuyến khích các em tham gia học trên bậc tiểu học. Giải quyết các nguyên nhân cơ bản khiến hiện tượng kết hôn sớm vẫn còn tồn tại, xác định các biện pháp thay thế và tạo cơ hội cho các em gái có nguy cơ cao, đồng thời phối hợp chặt chẽ với cộng đồng nhằm tạo sự hỗ trợ cho những động thái này.

Ủng hộ việc thực hiện các chương trình mang lại nhiều tác động tích cực trong đó xác định được các đối tượng và xây dựng giá trị của nhóm trẻ em gái VTN có nguy cơ phải kết hôn sớm và có  thai ngoài ý muốn. Tạo ra các chương trình có mô hình không gian an toàn cho các em gái gặp gỡ nhau và gặp gỡ các cán bộ tư vấn, đồng thời đây là nơi thực hiện nội dung các chương trình giáo dục kỹ năng sống, nơi học tập, chăm sóc sức khỏe em và là nơi các em có thể tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. /.

Mang  thai  ở  tuổi  vị  thành  niên  là một  vấn  đề  cần  giải quyết  trong quá trình phát triển. Năm nay, 2019 TW Hội LHPN Việt Nam đã phát động là năm “An toàn cho phụ nữ và trẻ em”. Và vì vậy, chương trình phối hợp để đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, giáo dục Dân số và Phát triển nói chung cũng như giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh và sức khỏe tình dục cho VTN/TN nói riêng giữa Tổng cục Dân số, Bộ Y tế với Bộ Lao động-Thương bình và Xã hội cùng với Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một Chương trình hết sức cần thiết. Với tinh thần đó, chúng ta cần đầu tư nhiều hơn vào trẻ em gái vì lợi ích của chính các em. Các  em gái được học hành và khỏe mạnh sẽ có nhiều  cơ hội để phát huy hết tiềm năng của mình, đồng thời sẽ có nhiều cơ hội để nhận các quyền mà mình được hưởng. Các em cũng có thể sẽ kết hôn muộn hơn, trì hoãn việc sinh con ở tuổi muộn hơn, sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh hơn và có khả năng có thu nhập cao hơn. Các em có thể tự giúp mình và gia đình của mình thoát khỏi đói nghèo. Các em sẽ chính là động lực tạo ra những sự thay đổi cho cộng đồng và cho các thế hệ tương lai./.  

Bs Mai Xuân Phương- Phó vụ trưởng Vụ Truyền thông – Giáo dục, Tổng cục Dân số – KHHGĐ

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Mang Thai Ở Tuổi Vị Thành Niên, Hiv/Aids Tim Hieu Tuoi Vi Thanh Nien Va Hiv Aids Ppt / 2023 trên website Dsb.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!