Mang Thai Hộ Ở Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương / Top 17 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2023 # Top Trend | Dsb.edu.vn

Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương

Những điều nên làm để giảm phù nề cho mẹ bầu

Theo các bác sĩ sản khoa thì sự gia tăng chất lỏng bổ sung này là rất cần thiết để giúp người mẹ “làm mềm” cơ thể, cho phép cơ thể mẹ có thể “nở rộng” ra để đáp ứng nhu cầu lớn lên của em bé.

1. Nguyên nhân gây phù nề

Trong thời kỳ mang thai, cơ thể sản xuất thêm 50% lượng máu và chất lỏng bổ sung để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của thai nhi. Chính điều này đã gây nên hiện tượng phù nề cho bà bầu.

Theo các bác sĩ sản khoa thì sự gia tăng chất lỏng bổ sung này là rất cần thiết để giúp người mẹ “làm mềm” cơ thể, cho phép cơ thể mẹ có thể “nở rộng” ra để đáp ứng nhu cầu lớn lên của em bé.

Chất lỏng bổ sung này cũng giúp khớp xương chậu và các mô tế bào giãn ra khi em bé chào đời, nó chiếm khoảng 25% trọng lượng tăng thêm trong thời gian mang thai.

Phù nề có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào trong thai kỳ, tùy thuộc vào cơ địa từng mẹ bầu, nhưng nó thường phổ biến ở tháng thứ 5 và tăng lên vào 3 tháng cuối thai kỳ.

– Đứng lâu.

– Chế độ ăn ít kali (Kali giúp duy trì chất lỏng và chất điện giải trong tế bào cơ thể. Do khối lượng máu tăng thêm 50% khi mang thai nên cơ thể cũng cần tăng chất điện giải, giữ cân bằng các hóa chất trong hàm lượng chất lỏng tăng thêm).

– Tiêu thụ nhiều caffein.

– Ăn nhiều natri (muối).

– Làm việc vất vả.

– Thời tiết nóng bức.

Có một điều các mẹ bầu nên biết là phù nhẹ là dấu hiệu hết sức bình thường khi mang thai, tuy nhiên nếu bị phù đột ngột ở tay và mặt thì đó có thể là dấu hiệu của tiền sản giật. Bạn cần đến gặp bác sĩ ngay nếu bị phù đột ngột.

2. Những gợi ý giảm, tránh phù nề

Nếu bạn bị phù nề do thiếu kali thì hãy nhanh chóng bổ sung kali vào thực đơn hàng ngày. Một số món ăn giàu kali mẹ bầu có thể ăn như: hoa quả, rau xanh, thịt gà, thịt đỏ, cá, sữa, sữa chua, sản phẩm từ đậu nành, các loại hạt đều cung cấp kali cho bà bầu.

Ngoài ra còn một số thực phẩm chứa lượng kali cao như: 1 của khoai lang nướng cả vỏ chứa 844mg kali; 200g sữa chua chứa 579mg kali; nửa bát soup cà chua chứa 549mg kali; 1 quả chuối chứa 422mg kali.

Không những thế, kali còn có nhiều trong rau chân vịt, quả mơ khô, nước cam, dưa hấu…

Mẹ bầu có thể dựa vào một số dấu hiệu sau để nhận biết mình đang bị thiếu kali: do nôn (hoặc tiêu chảy) mạn tính, cơ thể mệt mỏi, hay bị chuột rút, táo bón và nhịp tim bất thường. Và tốt nhất bạn hãy thăm khám bác sĩ để được xác định kịp thời.

Ngoài ra mẹ bầu nên áp dụng những cách sau để giảm/ tránh hiện tượng phù nề khi mang thai:

– Giữ cho cơ thể luôn đủ nước. Uống đủ nước khi mang bầu giúp các hệ tiêu hoá, tiết niệu… hoạt động tốt; đồng thời, phòng tránh được quá trình tích trữ chất lỏng, gây phù.

– Ăn nhạt. Muối, đồ ăn mặn làm cơ thể bị trữ nước. Vì thế, nếu bạn có thói quen ăn mặn thì nhất thiết phải hạn chế trong thời kỳ mang thai để tránh hiện tượng phù nề.

– Tránh mặc quần áo chật, tránh đi tất, giầy chật, đặc biệt là những đôi giày, tất thít chặt lấy cổ chân vì nó càng làm cho hiện tượng phù nề gia tăng.

– Mẹ bầu nên năng vận động, tập thể dục thể thao trong thai kỳ vì điều này sẽ giúp giảm và tránh phù nề. Một số hoạt động được coi là an toàn cho thai phụ như đi bộ, bơi lội, aerobic… Những động tác giãn cơ hay tập yoga cũng có tác dụng chống lại phù nề một cách hiệu quả.

– Ngoài ra, để không bị phù chân, mẹ bầu nên để chân được nghỉ ngơi ngay khi có thể và tránh đứng trong một thời gian dài. Khi ngồi, cần chắc chắn là cả cơ thể và bụng bầu ở tư thế thoải mái, ngay ngắn. Có thể kê chân lên gối hoặc một cái bục.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Nếu sưng phù không giảm qua vài đêm hoặc sau một vài tiếng thấy phù nặng đến tay, mặt hoặc các bộ phận khác của cơ thể, hãy đi gặp bác sĩ và nói về tình trạng của bạn. Đôi khi, phù có thể tăng do nhiệt nhưng một cuộc kiểm tra sức khỏe sẽ giúp bạn yên tâm hơn.

Theo Tri thức trẻ

Bé Gái Ở Ca Mang Thai Hộ Đầu Tiên Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế Vừa Chào Đời

Bé gái khỏe mạnh, nặng 3,5kg vừa chào đời trong niềm hạnh phúc vô bờ của người thân và đội ngũ y bác sỹ.

Trưa ngày 28/7, chúng tôi Bùi Đức Phú, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, bé gái mang thai hộ đầu tiên ở Miền Trung đã chào đời tại Bệnh viện Trung ương Huế vào 8h10 phút sáng nay ngày 28/7, cân nặng 3,5kg.

Các bác sĩ Khoa Phụ sản Trung tâm điều trị theo yêu cầu và quốc tế là đơn vị thực hiện ca mổ, bé gái chào đời sức khỏe tốt, đã bú được sữa ngoài.

Bé gái mang thai hộ đầu tiên ở Miền Trung chào đời sáng nay 28/7 – Ảnh: BV cung cấp

Theo bác sĩ Phú, mẹ của bé là một phụ nữ 35 tuổi (ngụ thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế) do bị cắt tử cung, không thể tự mang thai nên đã nhờ người mang thai hộ.

Từ năm 2007, Bệnh viện Trung ương Huế đã tiếp nhận hồ sơ trên 10 trường hợp mang thai hộ và đã thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm thành công 3 trường hợp.

Hiện có 3 bệnh viện trên cả nước được Bộ Y tế cho phép thực hiện mang thai hộ, gồm: Bệnh viện Phụ sản T.Ư (Hà Nội), Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ (TP. HCM), và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế.

Theo luật, cặp vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau: Có xác nhận của đơn vị y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi làm thụ tinh trong ống nghiệm; Vợ chồng đang không có con chung; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Còn người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ (hoặc bên chồng) nhờ mang thai hộ; Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần duy nhất; Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của đơn vị y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; Nếu người phụ nữ mang thai hộ đã có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của chồng; Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Nghiên Cứu Tình Trạng Nhiễm Rubella Ở Phụ Nữ Mang Thai Có Nguy Cơ Và Hội Chứng Rubella Bẩm Sinh Tại Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1. Một số đặc điểm của vi rút rubella 3

1.1.1. Đặc điểm sinh vật học 3

1.1.2. Đặc điểm quá trình phát triển của vi rút 4

1.1.3. Chẩn đoán trong phòng xét nghiệm 9

1.2. Một số đặc điểm dịch tễ học nhiễm rubella 16

1.2.1. Nguồn truyền nhiễm 16

1.2.2. Đường truyền nhiễm 16

1.2.3. Phân bố nhiễm rubella trên thế giới. 17

1.3. Cơ chế bệnh sinh của hội chứng rubella bẩm sinh 21

1.4. Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và chẩn đoán nhiễm rubella. 21

1.4.1. Triệu chứng lâm sàng 21

1.4.2. Xét nghiệm 22

1.4.3. Chẩn đoán tình trạng nhiễm rubella ở phụ nữ mang thai 25

1.4.4. Chẩn đoán thai nhi bị nhiễm rubella 25

1.5. Hội chứng rubella bẩm sinh và các thay đổi bất thường của thai nhi 27

1.5.1. Hội chứng rubella bẩm sinh 27

1.5.2. Các thay đổi bất thường của thai nhi 27

1.6. Các công trình nghiên cứu 28

1.7. Thái độ xử trí phụ nữ mang thai bị nhiễm rubella 33

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang 36

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu 37

2.2. Nghiên cứu mô tả tiến cứu 39

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu 39

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 40

2.3. Quy trình nghiên cứu 43

2.3.1. Quy trình xét nghiệm định lượng kháng thể kháng rubella 43

2.3.2. Quy trình chọc ối 44

2.3.3. Quy trình lấy máu cuống rốn thai nhi và trẻ sơ sinh: 47

2.3.4. Quy trình siêu âm phát hiện dị tật 47

2.3.5. Cách thức thăm khám và thu thập số liệu một số dị tật trên lâm sàng. 48

2.3.6. Chỉ định đình chỉ thai nghén ở phụ nữ mang thai nhiễm rubella. 50

2.4. Phân tích số liệu 52

2.5. Các biện pháp hạn chế sai số 52

2.6. Đạo đức trong nghiên cứu 53

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54

3.1. Một số đặc trưng cá nhân 54

3.1.1. Đặc trưng cá nhân 54

3.1.2. Tiền sử sinh sản 55

3.1.3. Tuổi thai 56

3.1.4. Tiền sử sốt phát ban và nhiễm rubella 56

3.2.1. Các triệu chứng lâm sàng và miễn dịch 58

3.2.2. Tỷ lệ nhiễm mới rubella 64

3.3. Một số thay đổi bất thường của thai nhi và trẻ sơ sinh trên thai phụ nhiễm rubella 69

3.3.1. Hình ảnh siêu âm bất thường của thai nhi 69

3.3.2. Đình chỉ thai nghén 71

3.3.3. Thay đổi trên trẻ sơ sinh 75

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 84

4.1. Đặc trưng cá nhân 84

4.2.1. Các triệu chứng lâm sàng và miễn dịch của nhiễm rubella 87

4.2.2. Tỷ lệ nhiễm mới rubella trên phụ nữ mang thai và một số yếu tố ảnh hưởng 93

4.3. Một số thay đổi bất thường của thai nhi và trẻ sơ sinh trên thai phụ nhiễm rubella 101

4.3.1. Thay đổi trên siêu âm thai và thai nhi 101

4.3.2. Đình chỉ thai nghén 103

4.3.3. Thay đổi trên trẻ sơ sinh 105

4.3.4. Chậm phát triển thai nhi 114

4.3.5. Thay đổi trên trẻ sơ sinh có nhiễm rubella 116

4.4. Một số điểm mới và khả năng áp dụng 119

KẾT LUẬN 120

KIẾN NGHỊ 122

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Phân loại dị tật bẩm sinh của thai nhi do mẹ bị nhiễm rubella trong vòng 12 tuần đầu của thời kỳ mang thai 28

Bảng 1.2. Tỷ lệ mới mắc dị tật bẩm sinh và sự có mặt của rubella ở phụ nữ có thai 31

Bảng 3.1. Phân bố một số đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu 54

Bảng 3.2. Phân bố tiền sử sản khoa của đối tượng nghiên cứu 55

Bảng 3.3. Phân bố các triệu chứng lâm sàng riêng rẽ 58

Bảng 3.4. Phối hợp các triệu chứng lâm sàng 58

Bảng 3.8. Phân bố sự phối hợp 3 triệu chứng sốt, phát ban, nổi hạch và một số yếu tố ảnh hưởng 61

Bảng 3.9. Nồng độ IgM và IgG trung bình 63

Bảng 3.10. Phân bố nhiễm rubella theo một số đặc trưng cá nhân 64

Bảng 3.11. Phân bố nhiễm rubella theo tiền sử sinh sản 65

Bảng 3.12. Phân bố nhiễm rubella theo triệu chứng lâm sàng 66

Bảng 3.13. Phân bố nhiễm rubella theo tuổi thai 67

Bảng 3.15. Phân bố các bất thường của thai nhi 69

Bảng 3.16. Phân bố bất thường của thai trên siêu âm theo tình trạng nhiễm rubella 70

Bảng 3.17. Phân bố đình chỉ thai nghén theo tuổi thai nhiễm rubella 71

Bảng 3.18. Phân bố tuổi thai đình chỉ thai nghén 72

Bảng 3.19. Phân bố đình chỉ thai nghén theo các triệu chứng lâm sàng 72

Bảng 3.20. Phân bố đình chỉ thai nghén theo sự có mặt của kháng thể IgM và IgG 73

Bảng 3.21. Tỷ lệ thai nhi đình chỉ thai nghén trên 18 tuần xét nghiệm máu cuống rốn 74

Bảng 3.22. Kết quả xét nghiệm dịch chọc ối bằng kỹ thuật PCR 75

Bảng 3.23. Chỉ số apgar của trẻ sơ sinh 75

Bảng 3.24. Tỷ lệ trẻ cần được hồi sức sơ sinh 76

Bảng 3.25. Tỷ lệ trẻ sơ sinh có dị tật bẩm sinh 76

Bảng 3.26. Phân bố trẻ sơ sinh có dấu hiệu bất thường theo tuổi thai nhiễm rubella 76

Bảng 3.27. Phân bố các bất thường về mắt của trẻ sơ sinh 77

Bảng 3.28. Phân bố các bất thường về tim mạch và gan của trẻ sơ sinh 78

Bảng 3.29. Phân bố các bất thường trên da của trẻ sơ sinh 78

Bảng 3.30. Phân bố các bất thường về nhân trắc của trẻ sơ sinh 79

Bảng 3.31. Phân bố kháng thể IgG và IgM của trẻ sơ sinh 79

Bảng 3.32. Phân bố kháng thể IgG và IgM của trẻ sơ sinh 80

Bảng 3.33. Phân bố kháng thể IgM của trẻ sơ sinh nhiễm rubella và dị tật bẩm sinh 81

Bảng 3.34. Phân bố giữa tuổi thai phụ nữ mang thai nhiễm rubella và trẻ sơ sinh nhiễm rubella 81

Bảng 3.35. Phân bố các bất thường của thai nhi có dị tật bẩm sinh 82

Bảng 3.36. Phân bố đa dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh có dị tật bẩm sinh 83

Bảng 4.1. Giá trị chẩn đoán của kháng thể kháng rubella 92

Bảng 4.2. Các bất thường do nhiễm rubella trên trẻ sơ sinh 119

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Phân bố tuổi thai khi xét nghiệm 56

Biểu đồ 3.2. Phân bố tiền sử sốt phát ban của phụ nữ mang thai 56

Biểu đồ 3.3. Phân bố tiền sử nhiễm rubella của phụ nữ mang thai 57

Biểu đồ 3.4. Phân bố tiền sử tiêm phòng rubella của phụ nữ mang thai 57

Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ phụ nữ mang thai có cả 3 triệu chứng sốt, phát ban và nổi hạch 59

Biểu đồ 3.6. Sự có mặt của kháng thể kháng rubella IgG 62

Biểu đồ 3.7. Sự có mặt của kháng thể kháng rubella IgM 62

Biểu đồ 3.8. Sự có mặt của kháng thể kháng rubella IgG và IgM 63

Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ nhiễm mới rubella của phụ nữ mang thai có nguy cơ cao 64

Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ thai phụ bị đình chỉ thai nghén 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Quảng Bắc (2009), “Một số nhận xét phụ nữ mang thai bị lây nhiễm rubella trong nửa đầu thời kỳ thai nghén tại BVPSTW”, Tạp chí Y học thực hành, số 8/ 2009, tr 16 – 17.

2. Trần Danh Cường (2010), Thực hành siêu âm tim thai, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr 84 -155.

3. Phan Dẫn và cộng sự (2004), “Võng mạc”, Nhãn khoa giản yếu tập 1, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, Tr 470- 588.

4. Phan Dẫn và cộng sự (2004), “Glôcôm”, Nhãn khoa giản yếu tập 2, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, Tr 219 – 303.

5. Phan Trường Duyệt (2007), “Sự phát triển của thai”, Lâm sàng sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 10 – 20.

6. Phạm Thị Thanh Hiền (2011), “Nhiễm vi rút rubella”, Các bệnh lý nhiễm khuẩn trong thời kỳ mang thai, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 7 – 15.

7. Lê Diễm Hương, Dương Thị Lệ, Phạm Văn Ánh và cộng sự (2004), “Nhận xét sơ bộ tình hình nhiễm rubella bào thai trên các bà mẹ có nguy cơ cao trong 3 năm 2001 – 2003 tại Bệnh viện Phụ Sản Quốc Tế Sài Gòn”, Hội nghị Việt – Pháp về sản phụ khoa vùng Châu á Thái Bình Dương lần 4, tr 103 – 110.

8. Lê Diễm Hương, Lê Quang Tân, Phạm Văn Ánh và cộng sự (2005), “Nhận xét một số trường hợp mắc hội chứng rubella bẩm sinh đề xuất biện pháp phòng ngừa”, Hội nghị Việt – Pháp về sản phụ khoa vùng Châu á Thái Bình Dương lần 5, tr 101 – 106.

9. Vũ Xuân Nghĩa, Phạm Đức Minh, Nguyễn Quảng Bắc và cộng sự (2011), “Nghiên cứu thiết kế Nested PCR phát hiện virus rubella trong dịch ối thai phụ”, Tạp chí y học thực hành, số 11/2011, tr 55-57.

10. Hoàng Thị Thanh Thủy (2011), Nghiên cứu tình hình đình chỉ thai nghén vì nhiễm rubella tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 6 tháng đầu năm 2011, Luận văn tốt nghiệp nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, tr 48 – 54.

11. Nguyễn Vũ Trung (2007), “Virus rubella”, Vi sinh vật y học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 304-307.

Câu Chuyện Đằng Sau Ca Mang Thai Hộ Đầu Tiên Của Bv Phụ Sản Trung Ương

Sáng nay, Bệnh viện Phụ sản Trung ương sẽ phẫu thuật cho trường hợp sinh con bằng phương pháp mang thai hộ đầu tiên của viện. Câu chuyện xung quanh hai bà mẹ đặc biệt này cũng được truyền thông chú ý.

Nỗi niềm hiếm muộn

Chị Nguyễn Thị M. quê ở Hà Nam là bà mẹ đầu tiên sắp được bế đứa con của mình được một người thân mang thai hộ. Gia đình chị M và gia đình người mang thai hộ đã lên nhập viện từ chiều 21/1. Đến hiện tại, sức khỏe của bà mẹ mang thai hộ vẫn ổn định. Dự kiến sẽ phẫu thuật vào 7h sáng 22/1.

Chị M. không giấu được niềm xúc động khi đếm ngược thời gian để được nhìn thấy mặt con mình. Chị kể, vợ chồng chị lấy nhau 16 năm đến nay chị mới được cơ hội làm mẹ. Chị M. và chồng kết hôn một thời gian dài nhưng không có con. Khi đi khám, bác sĩ kết luận chị bị nhỏ tử cung bẩm sinh còn chồng chị kết quả hoàn toàn bình thường.

Cái tiếng “cau điếc” khiến nhiều lúc chị rơi vào tuyệt vọng. Vì dị tật của chị là bẩm sinh nên việc có thai là điều không tưởng. Đã nhiều lần, vợ chồng chị bàn nhau xin con nuôi, thậm chí có lúc chị đã muốn li hôn. Trái với suy nghĩ bi quan của vợ, chồng chị M. vẫn một mực yêu thương vợ, nhờ thế, những tháng ngày mang tiếng “cau điếc” của chị cũng đỡ đi phần nào.

Hi vọng bất ngờ đến với vợ chồng chị là vào cuối năm ngoái khi có một người nhà đến bảo ti vi nói sẽ cho phép mang thai hộ với những trường hợp giống như chị. Vợ chồng chị M. vui sướng vô cùng. Thấy cơ hội đến rồi nhưng việc tìm người mang thai hộ lúc này cũng không dễ dàng. Chị M. kể hai vợ chồng chị bắt đầu tìm hiểu luật mang thai hộ. Khi biết luật chỉ cho phép người thân, cùng hàng với mình, vợ chồng chị cứ băn khoăn liệu có ai giúp không.

May mắn, một người thân trong họ đã bằng lòng mang thai hộ. Họ không cần anh chị nhờ vả hay giải thích mà hoàn toàn tự nguyện. Vợ chồng chị M. lên Hà Nội làm các xét nghiệm và tiến hành thủ tục xin mang thai hộ. Do cả hai bên đã chuẩn bị kỹ từ trước nên việc tiến hành thủ tục không quá khó khăn.

Suốt thời gian thai kỳ, chị M. và người mang thai hộ như ngồi trên đống lửa. Bất cứ ca mang thai nào nhờ hỗ trợ sinh sản đã khó khăn nên với trường hợp của chị M. càng khó khăn hơn gấp bội. Qua mỗi tuần thai kỳ, hai bà mẹ lại thở dài vì mọi chuyện đã qua. Nhưng đến tuần 25 của thai kỳ, người mang thai hộ bị dị ứng. Vậy là cả hai bà mẹ cũng lên viện điều trị đến 10 ngày. Mọi khó khăn cũng đã qua dần. Đến nay sắp được bế con trên tay, vợ chồng chị vừa vui, vừa lo lắng không chợp mắt được.

Bác sĩ Hồ Sỹ Hùng – Phó Giám đốc Trung tâm hỗ trợ sinh sản Quốc gia- Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết hiện nay đa số những cặp vợ chồng vô sinh nằm trong độ tuổi trên 30. Nhóm trường hợp không có tử cung dao động từ 26 -29 tuổi, thời gian vô sinh từ 6 đến 10 năm. Cho đến hiện tại ở trung tâm có khoảng 18 trường hợp phải nhờ mang thai hộ do bệnh lý tử cung, trong đó 8 trường hợp không có tử cung, 5 trường hợp do tử cung bất thường, 4 trường hợp dính tử cung, có 3 trường hợp bệnh lý, 9 trường hợp là thất bại sau khi đã làm thủ thuật nhiều lần.

Theo các bác sĩ, tỷ lệ thành công ở những người vô sinh do bệnh lý tử cung cao hơn vì trứng của họ vẫn tốt. 8 trường hợp không có tử cung nhờ mang thai hộ thì có 6 trường hợp thành công. Trường hợp dính buồng tử cung cũng đạt tỷ lệ 4/5 trường hợp có thai. Bệnh lý của bà mẹ đạt tỷ lệ 2/3 trường hợp có thai. Tỷ lệ thất bại cao nhất rơi vào nhóm những người đã thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm nhiều lần thất bại. Con số này thành công là 3/9 trường hợp bác sĩ đang nghi ngờ có thể do bất thường gen, nhiễm sắc thể chưa phát hiện ra được nên tỷ lệ có thai không cao.

Bác sĩ Hồ Sỹ Hùng cho biết thêm, để thực hiện mang thai hộ, các bác sĩ sẽ dự trữ buồng trứng của người mang thai (đa số đều có buồng trứng hoàn toàn bình thường) bởi đây là điều kiện bắt buộc để tạo ra noãn phôi. Phác đồ kích thích buồng trứng, số ngày kích thích buồng trứng khoảng 10 ngày, số noãn tạo ra khoảng trung bình 11,28 noãn, số phôi tạo thành 7,6 phôi

Còn với người mang thai hộ, bác sĩ phải chuẩn bị cho họ sử dụng estrogen, niêm mạc tử cung rất tốt vì họ có tử cung bình thường, độ dầy niêm mạc tử cung 8,97 mm kết quả mang thai hộ số phôi chuyển trung bình 3 phôi.

Nghiên Cứu Về Thai Nghén Ở Thai Phụ Từ 35 Tuổi Trở Lên Mang Thai Lần Đầu Tại Bệnh Viện Phụ Sản Hải Phòng

Nghiên cứu về thai nghén ở thai phụ từ 35 tuổi trở lên mang thai lần đầu tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 1/1/2011 đến 31/12/2013/ Nguyễn Thị Duyên Hải. 2014. Thai nghén và sinh đẻ là thiên chức lớn lao mà tạo hóa đã trao cho người phụ nữ. Công việc này càng cao cả hơn đối với những người lần đầu tiên làm mẹ.

Thai nghén có nguy cơ cao là trường hợp có thai trong tình huống không thuận lợi cho sự phát triển bình thường của thai và diễn biến bình thường của cuộc đẻ [1]. Đó là những thai nghén có khả năng bị biến cố nguy hại cho thai nhi: dọa sảy thai, suy dinh dưỡng, chết trước, trong và sau đẻ cũng như tính mạng người mẹ trong quá trình mang thai và lúc sinh đẻ [2].

Các nguy cơ cao của mẹ lớn tuổi đẻ con so đã được chứng minh và tổng kết bằng nhiều công trình nghiên cứu khác nhau trên thế giới và trong nước. Khi bà mẹ lớn tuổi mang thai và sinh đẻ thường tăng cao các hậu quả như: TSG, trẻ nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng, trẻ ngạt và trong cuộc chuyển dạ thường phải có sự hỗ trợ của y tế như sử dụng thuốc tăng co bóp tử cung và thường phải kết thúc cuộc đẻ bằng thủ thuật lấy thai [ 46,47].

Nguyên nhân của các bà mẹ lớn tuổi đẻ con so là rất khác nhau, có thể do lập gia đình muộn, sau điều trị vô sinh hoặc tiền sử nạo phá thai. Xu hướng những năm gần đây do xã hội phát triển, một số phụ nữ do ưu tiên cho học vấn và nghề nghiệp nên quyết định lấy chồng muộn và chậm có con [3, 48,49].

Nhằm đánh giá một cách tổng quan tình trạng thai nghén của những bà mẹ từ 35 tuổi trở lên mang thai lần đầu được điều trị tại BVPSHP về nguy cơ khi có thai và khi sinh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu về thai nghén ở thai phụ từ 35 tuổi trở lên mang thai lần đầu tại BVPSHP từ 1/1/2011 đến 31/12/2013” với 2 mục tiêu:

LỜI CẢM ƠN DANH MỤC VIẾT TẮT MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG DANH MỤC BIỂU

1.9.Mẹ lớn tuổi đẻ con so với các nguy cơ khisinh17

TÀI LIỆU THAM KHẢO BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU

Tags: thai nghén, thai phụ , mang thai lần đầu nghiên cứu tình trạng viêm nhiễm sinh dục thấp ở sản phụ trên 35 tuần tuổi thai

Thuộc loại:

Tài Liệu Nội Khoa ” Tài liệu nâng cao

Loại tài liệu:

Portable Document Format (.pdf)

Gửi bởi:

Guest

Kích cỡ:

*******

Mức phí:

50.000 vnd

Lần tải:

*******

Mã tài liệu:

TLD26213

Ngày gửi:

28-03-2023

Hỗ trợ qua Email và Yahoo Chát

THÔNG BÁO: từ tháng 04/2023 vì một số lý do bất khả kháng hệ thống nạp điểm bằng thẻ cào của chúng tôi sẽ buộc phải tạm dừng. Trong thời gian này quý khách nạp điểm vào hệ thống thực hiện bằng cách chuyển Khoản qua tài khoản Ngân hàng hoặc ví điện tử MOMO. HỖ TRỢ 0915.558.890

Thông tin tài khoản Ngân hàng của Chúng tôi:

Tên tài khoản: BÙI QUANG THỤ : Số tài khoản: 0451000273276

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Thành Công-Hà Nội

Chuyển tiền qua ví điện tử MOMO

ví điện tử MOMO bạn có thể chuyển điểm qua số điện thoại 0915558890